BIDV stories

Những câu chuyện bây giờ mới kể

Vũ Quốc Sáu - Nguyên Chủ tịch HĐQT BIDV 26/04/2024 14:10

Mỗi người đều có những kỷ niệm, những giây phút khó quên trong cuộc đời mình. Bản thân tôi đã từng trải qua nhiều giây phút mà tôi mãi khắc ghi trong lòng.

37 năm gắn bó với ngành, giờ có cơ hội nhìn lại, biết bao khuôn mặt, bao sự kiện, bao kỷ niệm lần lượt tái hiện trong ký ức. Mỗi kỷ niệm đều đầy ắp những sự kiện không thể nào quên.


Câu chuyn th 1. Bui đu ra trưng.

Ông Vũ Quốc Sáu
Ông Vũ Quốc Sáu

Cuối năm 1970, tốt nghiệp Đại học Tài chính Kế toán, theo sự phân công của Bộ Tài chính, tôi về nhận công tác tại Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Thành phố Hải Phòng.

Tôi vẫn nhớ như in ngày đầu tiên đặt chân đến trụ sở Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Thành phố Hải Phòng. Khi ấy, người trước tiên tôi gặp là Đồng chí Trần Mai1, Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính. Ngay khi hoàn tất các thủ tục tiếp nhận lao động theo quy định, tôi được Đồng chí Trần Mai dẫn lên gặp Giám đốc Bùi Văn Mai2. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Giám đốc đó là một người lãnh đạo cởi mở, thân thiện và dễ gần nhưng cũng hết sức sâu sắc, nghiêm túc, cẩn thận và khoa học. Chính ấn tượng hết sức tốt đẹp đó đã gieo vào lòng tôi - chàng sinh viên trẻ mới tốt nghiệp - những nhiệt huyết say mê công tác, mong muốn được lao động, được cống hiến sức trẻ cho ngành và nó đã theo tôi suốt chặng đường gắn bó với Chi nhánh Ngân hàng Kiến Thiết Hải Phòng nói riêng và Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam nói chung sau này.

Nhớ lại buổi gặp mặt đầu tiên ấy, nói như các bạn trẻ bây giờ, tôi đã được Giám đốc “ưu ái” phỏng vấn rất nhiều và rất kỹ, từ chuyện gia đình, sinh hoạt ăn ở sau khi nhận công tác, đến chuyện học hành ở trường và cuối cùng, được giới thiệu khái quát về mô hình tổ chức, Ban Giám đốc hiện tại, cũng như các yêu cầu công việc của Chi nhánh. Đặc biệt, một câu hỏi được Đồng chí Giám đốc đặt ra trong suốt buổi nói chuyện không dưới một lần xoay quanh vấn đề sở trường của tôi. Lúc ấy, quả thật, tôi có hơi lúng túng và chỉ trả lời được một cách chung nhất là thời sinh viên tôi học đều tất cả các môn và luôn đạt kết quả sinh viên tiên tiến. Sau này, khi ở vào vị trí lãnh đạo, tôi mới thật sự thấu hiểu sự “ưu ái” ấy là có cơ sở, khoa học và rất đáng học tập trong công tác tuyển dụng lao động. Bởi vì, tất cả các câu hỏi của Đồng chí Bùi Mai hồi ấy đều hết sức cởi mở, đời thường, phá tan khoảng cách và sự rụt rè giữa lãnh đạo và nhân viên, toát lên một không khí ấm cúng, tình người - một nét văn hoá truyền thống riêng mà đến giờ Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam vẫn còn lưu giữ - giúp cho người lao động có thêm tự tin để trả lời chính xác các câu hỏi của người lãnh đạo, qua đó, tạo cho người lãnh đạo sớm nắm bắt được thế mạnh, điểm yếu của người được tuyển dụng, từ đó bố trí, sử dụng nhân sự một cách hợp lý.

Quay trở lại câu chuyện với Giám đốc Bùi Mai. Theo phân công của Đồng chí Bùi Mai, tôi đến gặp anh Dương Đức Bình để được cộng tác và chia sẻ một số đề tài nghiên cứu. Nhưng bất ngờ, tôi không nhận được sự hợp tác và tiếp đón ân cần như những gì mà tôi vừa được Giám đốc Chi nhánh trao đổi, chỉ bảo. Tất cả chỉ là một thái độ thăm dò. Thất vọng và hụt hẫng. Tôi như bị dội một gáo nước lạnh vào chính niềm đam mê làm việc, sự say mê được cống hiến, được ứng dụng những tri thức đã học vào công việc, vào cuộc sống Khác các bạn trẻ bây giờ còn có nhiều cơ hội và sự lựa chọn. Thời ấy, tôi chỉ có duy nhất một sự lựa chọn: đó là làm việc cật lực hết mình. Tôi mạnh dạn gặp và báo cáo lại với Đồng chí Giám đốc. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Đồng chí Giám đốc đã không hề sai. Một lần nữa, Đồng chí Giám đốc lại ân cần và giao cho tôi nhiệm vụ nghiên cứu về quản lý và thanh quyết toán quỹ tiền lương của các đơn vị thi công xây lắp. Nhận nhiệm vụ, tôi quyết định lựa chọn Công ty công trình thuỷ, đơn vị chuyên ngành thi công cầu cảng, đang thi công cảng Hải Phòng mở rộng, làm đối tượng nghiên cứu. Sau khi được sự chấp thuận của Ban lãnh đạo Công ty và xin được giấy phép hàng ngày ra vào cảng của Sở Công an Thành phố là chuỗi ngày dài đi xâm nhập thực tế. Sáu tháng lăn lộn tại công trường cùng phối hợp với cán bộ Phòng Lao động - Tiền lương của Công ty tổ chức xây dựng định mức đơn giá trên cơ sở theo dõi, chụp ảnh, bấm giờ các thao tác của công nhân, tôi đã hoàn thành báo cáo dài trên 50 trang, trong đó trình bày căn cứ, cơ sở, phương pháp và nội dung xây dựng định mức đơn giá xây dựng cảng. Báo cáo này đã được trình bày trước Ban Giám đốc, rồi lãnh đạo chủ chốt các Phòng, Ban của Công ty công trình thủy và được đánh giá cao, được Giám đốc Công ty cho triển khai áp dụng. Báo cáo này cũng được trình bày trước Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, nhân viên Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Thành phố Hải Phòng như một sự ghi nhận của Ban lãnh đạo đối với kết quả, công sức làm việc suốt mấy tháng qua của tôi.

Sau kết quả khích lệ ban đầu ấy, Giám đốc Chi nhánh tiếp tục giao cho tôi nghiên cứu giải pháp trả lương đến tay người lao động tại các đơn vị thi công xây lắp vì đây đang là điểm nóng, có nhiều dư luận trong quan hệ phân chia tiền lương mà người quyết định là Đội trưởng chứ không phải Giám đốc Công ty, dẫn đến hiện tượng “lương trên sổ sách một đằng, số tiền thực lĩnh của người lao động một nẻo”. Có thể nói, đây là việc làm “chui”, bất hợp pháp. Lại thêm một chuỗi ngày lăn lộn với thực tế. Lần này, tôi “vào vai” một cậu học sinh trung cấp xây dựng, nhà nghèo, vừa đi học vừa đi làm để kiếm thêm tiền phụ giúp gia đình. Tôi vẫn còn nhớ như in, hồi ấy, áo sơ mi trắng rất hiếm và quý. Tuy vậy, vì công việc, tôi đã quyết định “hy sinh” chiếc áo trắng của mình đem đi nhuộm nâu cho phù hợp với “vai” sắp đóng. Có lẽ cho đến cuối đời, tôi mãi sẽ không thể nào quên những tháng ngày lao động ở công trường, cũng đi ủng, đánh vữa phụ hồ, bê gạch như bất kỳ công nhân nào khác, và trong túi quần lúc nào cũng thường trực cây bút chì cùng vài mảnh giấy để ghi chép thông tin một cách “dấu diếm” và kín đáo. Vừa làm vừa tranh thủ trò chuyện, tâm sự với công nhân để thu thập thông tin làm cơ sở đối chiếu lương thực tế của từng công nhân với lương hạch toán trên sổ sách kế toán Công ty. Thậm chí, nhiều tối, hết giờ làm, người mệt nhoài nhưng tôi vẫn cố gắng đến nhà một số bác công nhân bậc cao, để nói chuyện, tâm sự, nhằm thu thập thêm được càng nhiều thông tin chính xác về thang bảng lương gắn với thang bậc thợ, số ngày công thực tế và nguyên nhân tồn tại hiện tượng “lương sổ sách một đằng, lương thực tế nhận một nẻo” càng tốt. Kết quả thật bất ngờ. Việc chia lại lương công nhân ở các đội là có thật nhưng hợp lý, thể hiện đúng nguyên tắc trả lương theo tính chất công việc thực tế, làm nhiều hưởng nhiều, không làm không hưởng. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng chia lại lương ở các đội chính là cấp bậc công việc gắn với bậc thợ cao rất ít, trong khi công việc gắn với các bậc thợ thấp thì nhiều hơn, đồng thời, năng suất lao động của công nhân trẻ, bậc thợ thấp thường cao hơn năng suất lao động của các công nhân già có bậc thợ cao do các công nhân trẻ có lợi thế hơn về sức khoẻ và độ nhanh nhạy. Từ việc làm thực tế của đội, tôi nhận thấy công tác phân phối tiền lương của đội sản xuất cho người lao động là hợp lý, bảo đảm nguyên tắc: lương bảo hiểm và công nhật được trả theo cấp bậc thợ, lương khoán được chi trả theo đúng khối lượng công việc và năng suất, đóng góp của từng người lao động. Vì vậy, để đảm bảo tính công khai, dân chủ, minh bạch trong các lần bình lương, đồng thời, tiếp tục thể hiện tính hợp lý trong việc phân phối lương của Đội trưởng đội sản xuất, tôi đã mạnh dạn đề xuất Đội sản xuất tổ chức một buổi bình lương định kỳ, trong đó, mời đại diện các đơn vị: Phòng Pháp chế, Sở Xây dựng, Tài chính, Lao động của UBND và Liên đoàn lao động Thành phố tham dự. Qua buổi bình lương này, các cơ quan chức năng của Thành phố đã ghi nhận cách làm trên của đội sản xuất và đề nghị hàng quý sau khi tổ chức bình lương, đội sản xuất sẽ chuyển kết quả về Phòng Kế toán của Công ty để xác định và phân phối lương cho công nhân theo đề xuất của đội sản xuất. Nhờ đó, giúp cho các đội sản xuất không phải phân phối “chui” lại lương như trước đây. Đây là việc làm tuy nhỏ nhưng đã giúp giải toả những thắc mắc, hoài nghi trong việc phân phối “chui” lương cho người lao động vẫn đang diễn ra từ trước đến nay.

.đến vào vai thy giáo bt đc dĩ - mt s trưng thành vưt bc

Từ hai sự kiện trên, anh Bình bắt đầu chú ý đến tôi và có những thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá. Riêng về phần mình, sau khi bị dội một gáo nước lạnh như vậy, tôi cũng đã quyết định thử đi tìm hiểu nguyên nhân. Qua tìm hiểu, tôi không còn cảm thấy giận mà trái lại càng cảm phục và trân trọng anh Bình hơn. Bởi vì, từ một đứa trẻ lang thang, không gia đình, theo bộ đội vào Nam tham gia kháng chiến, hoà bình trở về công tác tại Hải Phòng, không được đào tạo bài bản qua các trường lớp chính thống, lại hạn chế về sức khoẻ, khiêm tốn về ngoại hình, có dị tật bẩm sinh và bị di chứng của bệnh đậu mùa để lại, nhưng với sự thông minh, uyên thâm, cùng phong cách làm việc khoa học, hăng say, đam mê hết mình cho công việc (nhiu đêm làm vic trong tiết đông giá rét, trên ngưi vn khoác chiếc áo bông trn mà m hôi anh chy ròng ròng) anh đã chủ động tự nghiên cứu hầu hết các giáo trình của những trường Đại học lớn thời bấy giờ như: Đại học Xây dựng, Kinh tế Kế hoạch…. Điều giải thích cho thái độ ban đầu của anh đối với tôi cũng hết sức đơn giản: Trước tôi, về công tác tại Chi nhánh, đã có 03 đồng chí tốt nghiệp các khoá 1, 2, 3 Đại học Tài chính Kế toán nhưng đều để lại cho anh những ấn tượng không hay về năng lực của những cán bộ tốt nghiệp Đại học Tài chính Kế toán. Bởi vì, đối với anh, năng lực công tác không chỉ thể hiện qua bằng cấp mà còn thể hiện ở chính thực tiễn công việc. Chính điều ấy đã thôi thúc, khiến tôi mong muốn một ngày nào đó được cộng tác làm việc cùng anh. Và cơ hội ấy đã đến. Anh Bình chủ động đề xuất Giám đốc Chi nhánh phân công tôi tham gia cùng anh vào các chuyên đề do anh đang nghiên cứu, triển khai.

Đến bây giờ, tôi vẫn không tài nào quên được cảm giác lâng lâng sung sướng và hạnh phúc khi những nỗ lực, quyết tâm và niềm đam mê công việc của mình được tập thể, trong đó có anh Bình - một người “khó tính” ghi nhận, dẫu rằng, với tôi, sự khởi đầu là không dễ dàng, nhất là kỷ niệm về “gáo nước lạnh” đối với chàng sinh viên trẻ tuổi mới ra trường ngày nào.

Có thể nói, tôi và anh Bình đã cộng tác với nhau rất nhiều công việc, chuyên đề. Nhưng công việc đầu tiên được hợp tác với anh vẫn mãi sẽ là kỷ niệm khó nhạt phai nhất trong cuộc đời hơn ba chục năm gắn bó với Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam. Ngày ấy, gần như các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đều chưa đào tạo chuyên ngành kế toán - tài vụ XDCB như bây giờ. Dựa trên các tài liệu về kế toán, tài chính của các trường Đại học và kinh nghiệm tổ chức quản lý, cấp phát vốn đầu tư XDCB của Ngân hàng Kiến thiết, chúng tôi đã bỏ ra hàng chục ngày công lao động để cùng nhau soạn giáo án, rồi lại cùng nhau say sưa trao đổi, tranh luận để thống nhất, hoàn thiện từng nội dung giáo án do mỗi người đảm nhiệm. Cuối cùng, chúng tôi liên hệ với Trường trung cấp tài chính kế toán và chiêu sinh được 54 học viên là cán bộ từ các Công ty, Ban Quản lý công trình để đào tạo về kế toán - tài vụ XDCB. Sau hai tháng học tập tập trung, 54 học viên đều được cấp chứng nhận tốt nghiệp. Việc làm này giúp cho các Công ty xây lắp và Ban Quản lý công trình có đội ngũ kế toán đúng chuyên ngành, cập nhật, hạch toán chính xác, qua đó, hỗ trợ Ngân hàng quản lý tốt hơn vốn đầu tư xây dựng cấp phát theo kế hoạch của Nhà nước. Đối với tôi, đó là một công việc hết sức nhỏ bé nhưng nhiều ý nghĩa và kỷ niệm. Lần đầu tiên sau khi ra trường, tôi vào vai thầy giáo bất đắc dĩ nhưng đã đem lại những kết quả ngoài mong đợi, đánh dấu sự trưởng thành và bước ngoặt đầu tiên của cuộc đời tôi.

Câu chuyn th 2. T phát hin ca Tng Bí thư.

Năm 1974, trong một lần về thăm và làm việc với lãnh đạo Thành phố cảng, cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã trao đổi với lãnh đạo UBND Thành phố về hiện tượng ô tô chở VLXD từ trong thành phố chạy ra ngoại thành và ngược lại, nhiều ô tô chở VLXD từ ngoại thành vào thành phố và đặt câu hỏi: phải chăng việc cấp phát, phân phối VLXD của Thành phố đang có vấn đề3, làm tăng chi phí vận chuyển, dẫn tới tăng giá thành xây dựng công trình. Ngay ngày hôm sau, câu hỏi của cố Tổng bí thư được UBND Thành phố giao Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Thành phố Hải Phòng nghiên cứu và nhiệm vụ ấy được Giám đốc Chi nhánh giao lại cho tôi thực hiện. Như đã thành phản xạ bản năng, tôi lao vào thực tế để nghiên cứu, tìm hiểu. Điều trước tiên tôi tìm hiểu chính là căn cứ, phương pháp cấp phát, phân phối vật tư của Uỷ ban Kế hoạch Thành phố. Tiếp đó đến các thông tin, dữ liệu về nguồn cung cấp, địa điểm, khối lượng vật tư mỗi loại hàng năm các đơn vị sản xuất có khả năng đáp ứng. Qua tìm hiểu, tôi được biết, Uỷ ban Kế hoạch Thành phố sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm làm căn cứ cấp phát, phân phối vật tư hàng năm theo công thức: cứ 1.000 đồng giá trị sản lượng xây lắp thực hiện sẽ cấp phát tương ứmg số lượng vật tư (gạch, cát, đá, xi măng, sắt, thép, gỗ…) theo một tỷ lệ nhất định. Dựa trên công thức này, hàng năm, căn cứ chỉ tiêu kế hoạch vốn xây lắp cho mỗi quận, huyện, Uỷ ban Kế hoạch Thành phố sẽ lên kế hoạch để thực hiện cấp phát, phân phối từng loại vật tư theo các tỷ lệ trong công thức.

Với những thông tin, kết quả tìm hiểu, thu thập được, tôi đã sử dụng bản đồ hành chính của Thành phố để xác định vị trí các địa điểm sản xuất, khai thác, hoặc kho bãi chứa vật liệu, cũng như khối lượng vật tư hàng năm các đơn vị sản xuất của Thành phố có khả năng cung cấp, cự ly vận chuyển từ nơi sản xuất vật liệu đến trung tâm hành chính của các quận, huyện. Để thực hiện công việc này, hàng ngày, tôi phải đạp xe hàng chục cây số đến các quận, huyện để lấy số liệu. Thú thật, hồi đó, có được một chiếc xe đạp để đi công tác, đặc biệt đối với một cán bộ trẻ như tôi, thực là một “kỳ tích”. Bởi vì, thời bấy giờ, xe đạp rất hiếm và được phân phối căn cứ vào thâm niên công tác, thành tích kháng chiến, chức vụ đảm nhiệm. Vậy mà, tôi đã được “ưu tiên” phân phối. Vì thế, mặc dù không nói ra nhưng tự trong tâm khảm, tôi hiểu và coi đây là một sự ghi nhận của tập thể đối với sự đóng góp của mình cho Chi nhánh.

Trở lại với câu chuyện về câu hỏi của cố Tổng bí thư Lê Duẩn. Sau khi có đủ các thông số cần thiết, tôi đã vận dụng bài toán xác suất thống kê được học ở trường để giải bài toán cấp phát, phân phối các chỉ tiêu vật tư cho các công trình XDCB ở các quận, huyện thuộc Thành phố Hải Phòng và kiến nghị Uỷ ban Kế hoạch Thành phố sử dụng bài toán này khi cân đối kế hoạch cấp phát, phân phối vật tư trong kế hoạch XDCB hàng năm. Việc làm này thật nhỏ bé nhưng như đánh giá của UBND Thành phố lúc bấy giờ, đã mang lại hiệu quả kinh tế tương đối lớn, giúp giảm giá thành vận chuyển, đảm bảo giá thành XDCB hợp lý.

Cảng HP
Cảng Hải phòng những năm 1970s

Câu chuyn th 3. Tôi đã theo ngh tín dng, nghip đu tư, cp phát như thế nào?

Nói đến quyết toán vốn đầu tư XDCB không thể không nói đến công tác thẩm định quyết toán khối lượng công trình hoàn thành. Đã có rất nhiều công trình có những “vướng mắc” được “qua tay” tôi trực tiếp xem xét, thẩm định nhưng có hai công trình để lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, đánh dấu sự trưởng thành của cá nhân về bản lĩnh, sự kiên trì, bền bỉ, kiên quyết bảo vệ cái đúng, dám đấu tranh, đương đầu với tiêu cực để tiết kiệm vốn đầu tư cho Nhà nước.

Công trình thứ nhất - thi công cảng Chùa Vẽ. Đây là công trình thi công trong bối cảnh tình hình vật tư, nhất là xi măng, rất khan hiếm, trong khi các đơn vị sản xuất kinh doanh đang “bung” ra làm “kế hoạch ba”4. Sau khi hạng mục công trình hoàn thành, được nghiệm thu, đơn vị thi công (Bên B) lên quyết toán và được chủ đầu tư (Bên A) kiểm tra chấp nhận, Ngân hàng tiến hành thẩm định để cấp phát vốn cho Bên A thanh toán cho Bên B. Quá trình thẩm định của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng cho thấy, trong khối lượng thi công hoàn thành được nghiệm thu, quyết toán có 80 tấn xi măng tăng thêm, vượt định mức tiêu hao vật tư theo quy định. Ngay lập tức, tôi đã trực tiếp nghe, kiểm tra lại kết quả thẩm định và yêu cầu hai Bên A - B thuyết minh, giải trình. Cùng lúc, với vai trò Giám đốc Chi nhánh, tôi đã quyết định tạm dừng chưa thanh toán khối lượng thi công có gia tăng xi măng để tiếp tục tìm hiểu, làm rõ. Nhiều cuộc họp liên tiếp giữa Ngân hàng và hai Bên A, B đã được tổ chức để bàn bạc, nhằm mục đích thống nhất kết quả thẩm định, làm cơ sở cấp phát thanh quyết toán vốn đầu tư. Trong các cuộc họp ấy, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh Bên B luôn đưa ra quan điểm lập luận “đặc điểm công trình cầu cảng có tính đặc thù nên cần gia tăng khối lượng xi măng phục vụ thi công để nâng cao chất lượng bê tông, đảm bảo tuổi thọ công trình” như một “điệp khúc” không có hồi kết, coi đây là nguyên do dẫn tới vượt định mức tiêu hao vật tư theo quy định, đồng thời, kiên quyết bảo vệ lý lẽ này - một lý lẽ rất thiếu thuyết phục. Ấy vậy nhưng không hiểu vì lý do gì mà ngay cả Bên A cũng ra sức đồng tình, ủng hộ lý lẽ nêu trên. Song kết quả nghiên cứu cả thực tế lẫn lý thuyết sách vở thời bấy giờ đều cho thấy, không phải kết cấu bê tông nhiều xi măng đã tốt, trái lại không ít trường hợp còn làm bê tông bị ròn, khi va chạm dễ đổ vỡ. Trước diễn biến này, tôi đã mời nhiều chuyên gia đầu ngành xây dựng về kỹ thuật và kết cấu hỗ trợ chúng tôi tái thẩm định nhưng không thu được kết quả mong đợi vì kết cấu của cấp phối bê tông “dường như” đã được Bên B chuẩn bị từ trước nên các thông số được tính toán, sắp xếp rất hợp lý. Các cuộc tranh luận tiếp tục “nổ” ra. Nhiều cuộc tranh luận căng thẳng, thậm chí cả to tiếng, đã bắt đầu xuất hiện, với cường độ tăng dần. Bản thân đơn vị thi công (Bên B) đã phát đơn kiện Chi nhánh lên Trọng tài kinh tế Nhà nước và Trọng tài kinh tế Nhà nước hồi ấy cũng đã có văn bản gửi Tổng Giám đốc NHNN Việt Nam cùng Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam yêu cầu bồi hoàn vật chất đối với những thiệt hai của Bên B do “lỗi” Ngân hàng chậm thanh toán và xử lý kỷ luật cá nhân tôi.

Do nhiều cuộc họp (có cả các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực XDCB) đều không giải quyết dứt điểm được những vấn đề vướng mắc, cộng thêm sức ép từ phía Trọng tài kinh tế Nhà nước, nhiều cán bộ Chi nhánh bắt đầu nản chí, thậm chí một số cán bộ đã dao động, ngả sang quan điểm của Bên B. Bản thân tôi, trước sức ép và áp lực dư luận ngày càng tăng, làm cho đầu óc lúc nào cũng cảm thấy căng thẳng, nhiều thời điểm rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Còn đơn vị thi công tranh thủ hoàn cảnh này thực hiện “tấn công” quyết liệt. Một lần, đến đơn vị làm việc với Đồng chí Giám đốc, với mục đích làm dịu tình hình và tìm cách tháo gỡ, không ngờ tôi bị Đồng chí Giám đốc phản ứng, thậm chí còn nổi nóng, quát tháo, đập tay xuống bàn và một điều không may đã xảy ra. Mặt kính bàn làm việc của Giám đốc đơn vị thi công bị vỡ, chọc vào cổ tay Đồng chí Giám đốc làm bật máu, phun trào ra ngoài phải nhờ y tá đơn vị băng bó, sơ cứu cầm máu. Lúc ấy, tôi chợt hoảng sợ, tái mặt. Nhưng ngay lập tức, trấn an lại, cảm thấy mình hành động không hề có gì sai trái, nên tôi đã bình tĩnh, ôn tồn đề nghị Đồng chí Giám đốc cho kế toán và thủ kho của đơn vị thống kê, tập hợp đầy đủ tất cả các phiếu nhập - xuất kho xi măng, chuyển lại cho Chi nhánh kiểm tra, đối chiếu để kết luận, giải quyết dứt điểm vụ việc tranh cãi kéo dài. Hai ngày sau, tôi cùng cán bộ chuyên quản đơn vị quay trở lại thực hiện kiểm tra, đối chiếu chứng từ. Kết quả cho thấy lượng xi măng xuất kho cho các công trình (kể cả số xi măng nhượng bán cho cán bộ, nhân viên sửa nhà, gắn bể) vừa đúng bằng tổng số xi măng nhập trong kỳ và tồn kho hiện tại. Đến đây, chắc bạn đọc cũng đã hiểu được nội dung vấn đề. Đồng chí Giám đốc đơn vị thi công buộc phải thừa nhận kết quả thẩm định của Chi nhánh nhưng cũng không quên chữa ngượng và giải thích thêm mục đích quyết toán số xi măng gia tăng để có xi măng đi thi công các công trình thuộc kế hoạch ba. Còn chúng tôi thực hiện lập Biên bản cuộc kiểm tra, đối chiếu chứng từ nhập - xuất kho nói trên, kết thúc một hành trình dài “đấu tranh” căng thẳng để hoàn thành nhiệm vụ quản lý, cấp phát nguồn vốn XDCB mà Chính phủ tin tưởng, giao phó cho hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.

Với kết luận này, sau đó, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng đã gửi Công văn cho Trọng tài kinh tế Nhà nước kèm theo Biên bản kiểm tra, đề nghị Đồng chí Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước xử lý kỷ luật đối với cán bộ tham mưu dưới quyền đã thiếu thận trọng, chưa kiểm tra nhưng kết luận vội vã đòi xử lý kỷ luật cán bộ ngân hàng. Nhận được Công văn của Chi nhánh, Trọng tài kinh tế Nhà nước đã có Công văn phúc đáp nhận lỗi và yêu cầu Giám đốc đơn vị thi công phải có văn bản xin lỗi Ngân hàng.

Nếu như kỷ niệm về việc thẩm định cắt giảm 80 tấn xi măng gia tăng trong khối lượng thi công cảng Chùa Vẽ chỉ là những lấn cấn, băn khoăn cuối cùng đã được giải đáp, sức ép từ phía cơ quan Nhà nước được giải toả thì đối với công trình xà lan “ngủ” làm nơi ăn nghỉ cho 40 công nhân trên vùng biển ngoài cảng Hải Phòng, sức ép, áp lực càng lớn, sự kiên định, vững vàng và sự tự tin, lòng yêu nghề, tận tâm, trách nhiệm với công việc, với đất nước của người cán bộ Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam càng cao. Nhớ lại thời bấy giờ, hàng năm, mặc dù Nhà nước phải bỏ ra lượng tiền không nhỏ để nạo vét nhưng cảng Hải Phòng vẫn bị sa bồi rất lớn, tàu trọng tải lớn không thể vào được. Nhằm mục đích giải phóng tàu nhanh, sớm vận chuyển hàng hoá trên tàu đến nơi sản xuất, tiêu dùng, theo chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, cảng Hải Phòng được ghi kế hoạch đóng một xà lan (dạng như một chiếc bông tông) sử dụng cho 40 công nhân ăn ngủ, làm việc trên biển khi có tàu vào để kịp thời bốc vác hàng hoá qua mạn tàu, đưa vào cảng. Công trình này do một đơn vị tư vấn thiết kế của Bộ Giao thống thiết kế, Liên hiệp HTX đóng tàu thuyền Hà Nam Ninh được giao nhiệm vụ thi công, với giá dự toán ban đầu là 15 triệu đồng, sau được điều chỉnh lên 30 triệu đồng. Tuy nhiên, do điều kiện, năng lực của đơn vị thi công, tình hình vật tư sắt, thép cấp phát, phân phối tiếp nhận nhỏ giọt nên sau gần hai năm thi công, xà lan mới được hoàn thành. Đơn vị thi công lên quyết toán hoàn công và được Ủy ban Vật giá phê duyệt 650 triệu đồng. Một giá thành bất ngờ làm tôi không khỏi ngạc nhiên, sửng sốt khi nhận hồ sơ đề nghị cấp phát. Lần này, đích thân tôi xâm nhập thực tế tại hai cơ sở sản xuất đóng tàu khá nổi tiếng của Thành phố Hải Phòng thời bấy giờ là Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng và Tam Bạc để nghiên cứu, tìm hiểu quy trình đóng tàu, xà lan, cũng như từng công đoạn nghiệm thu kỹ thuật của cơ quan đăng kiểm, định mức tiêu hao vật tư đóng tàu, xà lan từ các vật tư đắt tiền như coócnhê, thép hình, đến tôn, que hàn…. Sau đó, tôi trực tiếp đi Hà Nam Ninh để thăm cơ sở sản xuất của Liên hiệp HTX đóng tàu thuyền Hà Nam Ninh. Tại đây, tôi được đón tiếp cởi mở, trân trọng nhưng cũng đan xen đây đó những lời khoe khoang, khuyếch trương, thậm chí cả răn đe của Giám đốc Liên hiệp HTX. Quả thật, thời bấy giờ, phải thừa nhận đây là cơ sở sản xuất của kinh tế tập thể rất thành công, cực kỳ năng động và sáng tạo. Đặc biệt, trong điều kiện hạn chế về nguyên liệu đóng tàu, xà lan, Liên hiệp HTX này đã sáng chế được sản phẩm thuyền bê tông lưới thép - sản phẩm nổi tiếng một thời - với giá bán rẻ, phù hợp với túi tiền người tiêu dùng nhưng hết sức tiện lợi trong sử dụng ở nông thôn. Chả thế mà Ông Đê - Giám đốc Liên hiệp HTX đóng tàu thuyền Hà Nam Ninh - đã được dư luận suy tôn là “vua Đê” vang bóng khắp một thời. Và vì vậy, cơ sở sản xuất của “vua Đê” đã được rất nhiều Đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến thăm, chụp ảnh lưu niệm trưng bày tại phòng truyền thống.

Tuy nhiên, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp, đặc biệt là sự thành thạo trong công tác thẩm định, với kiến thức thực tế vững chắc, cộng với sự tư vấn hỗ trợ của Ủy ban Vật giá Thành phố Hải Phòng, chúng tôi (Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng) đã thẩm định kỹ lưỡng và chỉ chấp thuận cấp phát 320 triệu đồng (bao gồm cả lãi vay ngân hàng do chậm thanh toán) cho công trình này. Lại thêm một công trình, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Hải Phòng phải đối diện với nhiều cuộc họp, tranh luận căng thẳng, cam go với không chỉ đơn vị thi công, phía chủ quản đầu tư (Bộ Giao thông) và Uỷ ban Vật giá Nhà nước. Thậm chí, đơn vị thi công còn không chịu bàn giao xà lan để đưa vào khai thác sử dụng nhằm tạo dư luận và sức ép cho Chi nhánh lên tận Chính phủ.

Nhưng thêm một lần nữa, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng, mà trước tiên là tôi, với cương vị Giám đốc Chi nhánh, tiếp tục đương đầu, chịu hết sức ép này đến áp lực khác, kể cả những cám dỗ về vật chất, cùng nhiều văn bản của các cấp có thẩm quyền với những nội dung “cứng rắn”, “răn đe”, có những lúc tưởng chừng vượt quá giới hạn chịu đựng của chúng tôi. Nhưng cuối cùng, bằng bản lĩnh nghề nghiệp, sự kiên định và thái độ kiên quyết nhưng cũng hết sức cởi mở, thiện chí, Uỷ ban Vật giá Nhà nước và Liên hiệp HTX đóng tàu thuyền Hà Nam Ninh đã chấp thuận kết quả thẩm định của Chi nhánh, đồng ý bàn giao xà lan đưa vào sử dụng. Một lần nữa uy tín của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng nói riêng và Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng nói chung được khẳng định. Bên cạnh kỷ niệm trong câu chuyện với ông “vua Đê” còn một sự kiện nữa làm tôi nhớ mãi. Đó là khoảng một tháng sau thời gian cấp phát thanh toán vốn đầu tư xà lan “ngủ”, có một tin buồn làm xôn xao dư luận: “vua Đê” bị cảm nặng, chết đột tử tại cơ sở sản xuất vùng đồng bằng Nam Bộ. Trong ngành, Đồng chí Phạm Bích Ngọc5 và Đồng chí Phan Ngọc Tường6 có nói đùa với tôi rằng “tại ông Sáu cắt giảm giá lớn quá, gây sốc làm “vua Đê” chết đột tử”. Câu nói này tuy chỉ là lời nói đùa nhưng thực sự nó cũng đã làm nhiều người nhớ mãi đến hồ sơ cấp phát vốn cho công trình xà lan “ngủ” của ông “vua Đê”

Câu chuyn th 4. Hành trình thi làm Giám đc và ni nim ca ngưi Đoàn viên thanh niên vi Đng

Đối với cá nhân tôi, có khá nhiều kỷ niệm đáng nhớ xung quanh quá trình rèn luyện, phấn đấu gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng có lẽ một trong những kỷ niệm mà tôi mãi khắc ghi trong lòng đó chính là nỗi niềm của người Đoàn viên thanh niên được thổ lộ với Đảng một cách chân thực, thẳng thắn, đúng lúc, đúng chỗ và có tổ chức. Nhớ lại thời kỳ những năm 1968 - 1969. Được trở thành đối tượng Đảng rất sớm, ngay từ những ngày còn ngồi trên ghế giảng đường Đại học. Năm 1968, Anh Võ Xuân Phúc7, lúc ấy là Bí thư Chi bộ sinh viên, đã đi thẩm tra lý lịch của tôi để xem xét kết nạp Đảng. Nhưng như bạn đọc đều biết, thời điểm đó đang trong giai đoạn chiến tranh ác liệt trên cả hai miền Nam - Bắc, nhiều bạn bè cùng trang lứa với tôi lên đường nhập ngũ ra chiến trường, có người mới nhập ngũ, trên đường hành quân vào Nam, chưa kịp chiến đấu đã hy sinh, nhưng một số thanh niên khác, trong đó có tôi, đang là sinh viên Đại học năm cuối. Có lẽ đó chính là lý do làm cho cán bộ tiếp nhận hồ sơ thẩm tra lý lịch của Đảng uỷ xã đã không đưa qua tập thể để rồi nhận xét sai lệch trong hồ sơ của tôi. Để rồi, năm 1969, Anh Vũ Bút8 tiếp tục thực hiện thẩm tra lý lại lý lịch lần hai. Nhưng sau khi thẩm tra xong, do một số nguyên nhân khách quan, lớp tôi và lớp kế toán - tài vụ XDCB phải rời nơi sơ tán tại Lãng Công, Lập Thạch, Vĩnh Phúc về Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội để có thời gian đi thực tế tại các công trường, vì vậy, ngày ra trường, trong hành trang đi nhận công tác của tôi có thêm hồ sơ lý lịch Đảng đã được thẩm tra, đề nghị đơn vị tiếp nhận xem xét, bồi dưỡng kết nạp. Song không vì thế mà tôi chán nản, buồn bã, tiêu cực. Năm năm công tác tại Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Thành phố Hải Phòng, không chỉ riêng tôi, dù hoạt động Đoàn tích cực, được đánh giá cao trong công tác chuyên môn, nhưng không một đoàn viên nào được xem xét kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Là đoàn viên thanh niên, cảm thấy trách nhiệm trước tổ chức Đoàn, trước Đảng, tôi đã mạnh dạn gửi thư ngỏ tới các cấp ở thành phố để phản ánh hiện trạng công tác phát triển Đảng tại Chi nhánh. Rồi Đảng uỷ cấp trên về làm việc. Tôi được mời lên xác nhận nội dung thư ngỏ và phát biểu ý kiến. Bằng thái độ khiêm tốn, đúng mực và thận trọng, tôi vui mừng được “thổ lộ” với Đảng một cách chân thực, thẳng thắn tất cả nỗi niềm của một thanh niên luôn sẵn sàng rèn luyện, phấn đấu, mong một ngày được Đảng ghi nhận và chấp thuận cho gia nhập đội quân tiên phong của cả dân tộc. Kết quả của những lời góp ý bộc trực, thẳng thắn nhưng đúng mực, đúng lúc và đúng chỗ ấy chính là hàng chục đoàn viên ưu tú của Chi nhánh, trong đó có cá nhân tôi, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, hàng năm được gia nhập hàng ngũ của Đảng.

Được đứng trong hàng ngũ những người cộng sản là một vinh dự lớn đối với tôi. Đó cũng là nhân tố để tôi không ngừng rèn luyện, tu dưỡng và phấn đấu ngày càng hoàn thiện hơn. Và trong “hành trình” vươn tới sự hoàn thiện ấy, tôi nhớ đến “hành trình” - cho phép tôi tạm gọi như thế - được Nhà nước, cấp uỷ và chính quyền Thành phố Hải Phòng tín nhiệm, tin tưởng bổ nhiệm vị trí Giám đốc Chi nhánh. Có thể nói, đây là “hành trình” gắn với nhiều sự kiện, nhiều kỷ niệm nhất của cuộc đời tôi. Bắt đầu từ những chuyên đề và đề xuất táo bạo, sáng tạo, có hiệu quả ở Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết, rồi Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng, và thành tích giảng dạy bên ngoài, cộng với niềm đam mê nghề nghiệp, thái độ làm việc nghiêm túc, thẳng thắn, kiên quyết nhưng đúng mực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong công tác chuyên môn cũng như đoàn thể, tôi được lãnh đạo UBND Thành phố quan tâm, chú ý, tạo điều kiện bồi dưỡng. Đặc biệt, Năm 1974, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 228, Chính phủ đề ra chính sách chống thất thoát trong XDCB. Tại Hải Phòng và nhiều thành phố lớn trong toàn quốc, nhiều vụ án kinh tế nổi lên, đòi hỏi cần được xử lý nhanh chóng, công tâm và khách quan với sức ép ngày càng “nóng” trong dư luận quần chúng nhân dân. Trước tình hình đó, để đáp ứng yêu cầu, chất lượng điều tra, xét xử, UBND Thành phố quyết định thành lập Hội đồng giám định các vụ án kinh tế và tôi được tin tưởng giao làm Chủ tịch Hội đồng giai đoạn 1974 - 1975, qua đó, giúp các cơ quan pháp luật Thành phố kết luận và xử lý đúng người, đúng tội, không để bỏ sót, lọt tội hay oan sai đối với nhiều vụ án kinh tế.

Từ những đóng góp này, tôi đã tạo được niềm tin của lãnh đạo Thành uỷ, UBND Thành phố. Và có lẽ vì thế, đến năm 1984, khi Đồng chí Nguyễn Duy Gia - Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - về làm việc với Thành phố Hải Phòng, tôi đã vinh dự được lãnh đạo UBND Thành phố giới thiệu đề xuất thay thế Giám đốc đương nhiệm sắp đến tuổi nghỉ hưu. Nhưng câu chuyện về “hành trình” được Nhà nước bổ nhiệm Giám đốc chưa hẳn đã hết. Hồi ấy, Đồng chí Nguyễn Duy Gia có chủ trương triển khai thí điểm cơ chế Giám đốc Ngân hàng được bổ nhiệm thông qua thi cử - một cơ chế rất mới (ngay cả đến hiện nay cũng chỉ có khối doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng). Sau khi được lãnh đạo Thành phố đề xuất, tôi được Đồng chí Nguyễn Duy Gia đưa vào danh sách thi làm Giám đốc thời bấy giờ. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên gương mặt rạng rỡ của 28 bạn đồng nghiệp khác cùng thi với tôi bốn môn: kinh tế chính trị, lịch sử Đảng, quản trị điều hành và nghiệp vụ. Một kỳ thi diễn ra hết sức nghiêm túc, công khai và minh bạch. Đề thi được gửi từ Ngân hàng Nhà nước trong bì thư dán kín, bài làm của chúng tôi cũng được niêm phong và gửi về Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chấm thi theo quy định. Kết quả, có bốn người đạt tiêu chuẩn để bổ nhiệm Giám đốc, trong đó có tôi. Vinh dự và hạnh phúc. Trên cơ sở kết quả kỳ thi, ở tuổi 37, tôi được bổ nhiệm làm Giám đốc, trở thành Giám đốc DNNN trẻ tuổi nhất thời bấy giờ.

Những câu chuyện trên đây chưa một lần được viết ra, nay được kể lại cho các anh, chị em đồng nghiệp, và đặc biệt cho các bạn trẻ, không phải là sự khoe khoang mà chỉ như một sự tri ân, một món quà của cuộc sống dành tặng riêng tôi mà cao hơn đó là sự sẻ chia với người đọc về những trải nghiệm của cuộc sống, của cuộc đời và tình người nhân dịp kỷ niệm 50 năm - một chặng đường dựng xây và trưởng thành của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, với mong muốn các bạn sẽ đón nhận được từ trong sâu thẳm mỗi câu chuyện là những giá trị góp phần minh hoạ và khẳng định thêm truyền thống, bản sắc văn hoá BIDV, để mỗi chúng ta trân trọng, củng cố, gìn giữ và phát triển.

1 Sau này là Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Thành phố Hải Phòng

2 Giám đốc đầu tiên của Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Thành phố Hải Phòng, năm nay đã 95 tuổi và đang sinh hoạt tại Thành phố Hải Phòng

3 Bởi thời bấy giờ mọi vật tư, hàng hoá đều do Nhà nước quản lý, cấp phát và phân phối

4 Thời đó, đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh có ba “loại” kế hoạch mà quần chúng gọi nôm là: kế hoạch một (do Nhà nước giao), kế hoạch hai (do đơn vị đăng ký) và kế hoạch ba để giải quyết thêm đời sống cho người lao động

5,7 Sau này là Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam

6 Sau này là Trưởng phòng cấp phát giao thông - bưu điện và hiện nay đang công tác tại Ngân hàng phát triển Việt Nam

8 Sau này là Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Cửu Long

Ý kiến (0)
Gửi