Vì Việt Nam hùng cường

Sức mạnh hội tụ từ mô hình Đảng bộ toàn ngành

Trần Xuân Hoàng - Diễm Cầm - Hằng Trần - Vân Giang 28/07/2026 17:58

Nhìn lại những khúc quanh lịch sử của một tập đoàn vận tải hạ tầng quốc gia để thấy rõ: Tính thống nhất trong tổ chức Đảng không đơn thuần là một giải pháp sắp xếp bộ máy, mà là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự sống còn, an toàn của mạch máu kinh tế quốc gia – minh chứng thuyết phục nhất cho sức mạnh của mô hình Đảng bộ toàn ngành.

Kỳ 1: BÀI HỌC VỀ TÍNH THỐNG NHẤT TRONG TỔ CHỨC ĐẢNG

Sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng ta nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo. Tuy nhiên, đối với khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) – đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng thương mại nắm giữ các mạch máu kinh tế - kỹ thuật liên thông toàn quốc, việc tổ chức mô hình Đảng như thế nào để vừa tinh gọn, vừa bảo đảm sự lãnh đạo xuyên suốt, không bị chồng chéo là một bài toán thực tiễn phức tạp.

Khúc quanh năm 1984 và hệ lụy của sự "cắt khúc"

Nếu có một ngành kinh tế - kỹ thuật nào mà hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với sự vận hành liên tục, chính xác đến từng giây, từng ly trên một hệ thống hạ tầng trải dài từ địa đầu Móng Cái đến mũi Cà Mau, thì đó chính là hệ thống vận tải đường sắt xuyên Việt. Sự liên hoàn đặc thù ấy đòi hỏi một cơ chế điều hành tập trung, thống nhất cao độ từ Trung ương đến cơ sở. Thế nhưng, lịch sử tổ chức Đảng của trục giao thông ngành dọc này đã từng đi qua một "khúc quanh" thử nghiệm đầy cam go vào thập niên 80 của thế kỷ trước – một chương lịch sử được ghi lại trong các báo cáo chính thức của Đảng ủy Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam như một bài học kinh nghiệm sâu sắc về mô hình tổ chức Đảng trong doanh nghiệp.

2aoboqnjz7ofxqhllq4kencwr5sb3qzbwzh0of1s.jpg
Đại hội Đại biểu lần thứ XV

Ngược dòng thời gian, Đảng bộ Tổng công ty Đường sắt Việt Nam trước đây là Đảng bộ toàn ngành, tổ chức theo mô hình 3 cấp, được thành lập từ ngày 06/4/1955 theo Quyết định số 13-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất, mô hình xuyên suốt này đã phát huy tối đa sức mạnh chỉ huy, lãnh đạo toàn diện vượt qua mưa bom bão đạn, giữ vững dòng chảy giao thông thông suốt, hoàn thành kết nối trục hạ tầng Bắc – Nam dài hơn 1.700 km vào cuối năm 1976 để chào mừng Đại hội lần thứ IV của Đảng.

Tuy nhiên, vào năm 1984, xuất phát từ những tìm tòi về cơ chế quản lý kinh tế và mong muốn tăng cường sự gắn kết giữa doanh nghiệp với địa bàn, Ban Bí thư Trung ương Đảng khi đó đã quyết định giải thể Đảng bộ toàn ngành dọc này, chuyển toàn bộ các tổ chức cơ sở Đảng của các xí nghiệp, ga trạm ở địa phương về trực thuộc cấp ủy các tỉnh, thành phố nơi có mạng lưới đi qua.
Ý chí chủ quan mong muốn tạo ra một sự phối hợp chặt chẽ giữa địa phương và doanh nghiệp, nhưng thực tế khách quan của một ngành sản xuất có tính chất dây chuyền đã dội một gáo nước lạnh vào mô hình thử nghiệm này. Tại báo cáo chính thức của Đảng ủy Tổng công ty Đường sắt Việt Nam khi nhìn nhận lại giai đoạn này đã chỉ rõ nguyên nhân: “Do chưa tìm được phương hướng cho phù hợp với tình hình mới, chưa đề ra được một cơ cấu và cơ chế phù hợp với phương thức sản xuất của ngành...".

Khi tổ chức Đảng bị xé nhỏ về trực thuộc các địa phương, mô hình “một cổ nhiều tròng” lập tức xuất hiện. Một cấp ủy doanh nghiệp vận tải đóng trên địa bàn tỉnh vừa phải tuân thủ sự chỉ đạo, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội riêng của Đảng ủy địa phương, vừa phải chấp hành quy trình sản xuất, điều hành tập trung của công ty mẹ. Sự mâu thuẫn này dẫn đến việc xử lý công việc bị chồng chéo, chậm trễ do phải phối hợp với quá nhiều bên liên quan từ chính quyền địa phương đến các sở, ban, ngành.
Hệ lụy về mặt chuyên môn xuất hiện ngay lập tức: Bộ máy quản lý cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ chồng chéo, nề nếp quản lý bị buông lỏng. Nghiêm trọng hơn, các quy trình, quy tắc, thể lệ và chế độ quản lý, khai thác vận tải – vốn được coi là “kỷ luật sắt” để bảo đảm an toàn tuyệt đối trên toàn tuyến – đã bị cắt xén và chấp hành tùy tiện.

Sự rệu rã từ gốc tổ chức Đảng đã đẩy tổng công ty vào thời kỳ suy thoái lớn. Giữa lúc nền kinh tế chuyển mình sang nhiều thành phần, các luồng hàng truyền thống bị phá vỡ dưới sự cạnh tranh gay gắt của các phương tiện đường bộ. Chất lượng dịch vụ lao dốc: hành trình trễ giờ triền miên, thiếu tiện nghi, trật tự an ninh trên các phương tiện và nhà ga phức tạp. Hành khách chen lấn mua vé, không biết khi nào đoàn tàu xuất phát và cũng chẳng rõ bao giờ đến đích. Cơ sở cuộc sống của hơn 6,4 vạn cán bộ, công nhân viên chức toàn ngành lúc bấy giờ đứng trước nguy cơ lung lay dữ dội.

Quyết sách đưa tổ chức Đảng trở lại ngành dọc

Trước thực trạng cấp bách đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nhanh chóng nhận thấy: Đối với một ngành kinh tế - kỹ thuật mang tính chất dây chuyền liên hoàn, tổ chức Đảng không thể bị "cắt khúc" hay xé lẻ theo địa giới hành chính nếu muốn duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Ngày 16/6/1988, Ban Bí thư đã ban hành quyết sách mang tính bước ngoặt: Thành lập lại Đảng bộ toàn ngành (lúc đó lấy tên là Đảng bộ Vận tải Đường sắt). Các đảng bộ hệ vận tải thuộc cấp ủy địa phương được điều chuyển về sinh hoạt tập trung tại Đảng bộ Vận tải Đường sắt.

Việc đưa tổ chức Đảng trở lại mạch ngành dọc không chỉ là sự điều chỉnh về mặt sơ đồ tổ chức, mà là trả lại sự đồng bộ mang tính quy luật, bảo đảm sự tương thích tuyệt đối giữa mô hình tổ chức Đảng và phương thức vận hành hệ thống tập trung, thống nhất. Thực tế ghi nhận sự hình thành lại của Đảng bộ toàn ngành đường sắt chính là yếu tố cốt lõi giúp công cuộc đổi mới của doanh nghiệp từ tháng 4/1989 diễn ra thuận lợi, tạo ra sự chuyển biến mang tính cách mạng.

Khi vai trò lãnh đạo được quy về một đầu mối Đảng ủy xuyên suốt, sự chỉ đạo tập trung đã lập tức tái lập “kỷ luật sắt” – yếu tố sống còn của ngành. Nề nếp sinh hoạt Đảng gắn chặt với trách nhiệm quản lý chuyên môn; các quy trình, thể lệ an toàn chạy tàu được siết chặt trở lại trên toàn tuyến. Luồng chảy hàng hóa và hành khách được khôi phục, tình trạng chậm chuyến, mất an toàn và nhếch nhác tại các nhà ga từng bước được đẩy lùi.

Nhờ giữ vững sự lãnh đạo thống nhất này, liên tục qua các kỳ Đại hội từ Đại hội VI đến Đại hội X của Đảng, doanh nghiệp đã tập trung được tối đa nguồn lực toàn ngành để đầu tư nâng cấp hạ tầng. Hàng loạt kỳ tích đã được xác lập: Rút ngắn thời gian hành trình tàu Bắc - Nam từ 58 giờ xuống còn 29 giờ (giảm một nửa thời gian); các tuyến khác rút ngắn từ 2 đến 3 giờ. Công tác đảm bảo an toàn vận tải, an ninh, trật tự xã hội được Ngành đặc biệt quan tâm, đã giảm thiểu tai nạn, sự cố chạy tàu do chủ quan gây ra, tích cực phòng ngừa tai nạn khách quan. Bước đầu đã làm thay đổi hình ảnh nhà ga, đoàn tàu, cơ quan đơn vị theo mục tiêu: “Chính quy - Văn hoá - An toàn”.

Kết nối thông tin điều hành đường sắt qua hệ thống cáp quang của Bưu chính - Viễn thông và Quân đội, trang bị các tổng đài điện tử cho các đơn vị; lập các trang web để quảng bá cho thương hiệu Đường sắt Việt Nam và các đơn vị thành viên. Doanh thu sản xuất kinh doanh toàn ngành duy trì mức tăng trưởng bình quân ấn tượng trên 11%/năm. Đời sống của hơn 6,4 vạn cán bộ, công nhân viên chức dần đi vào ổn định và không ngừng được cải thiện.
Bài học lịch sử của tổng công ty vận tải này cho thấy: Đối với những doanh nghiệp có hạ tầng và hoạt động trải dài qua nhiều tỉnh, thành phố, mô hình Đảng bộ toàn ngành không đơn thuần là một giải pháp sắp xếp bộ máy. Đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo tính an toàn, thông suốt và hiệu quả của mạch máu kinh tế quốc gia. Bất kỳ sự chồng chéo nào về cơ chế đều có thể làm suy giảm kỷ cương và làm yếu đi sức chiến đấu của tổ chức Đảng ngay từ cấp cơ sở.
(Còn tiếp - Kỳ 2: Sức mạnh hội tụ từ mô hình Đảng bộ toàn ngành).

Ý kiến (0)
Gửi