Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp"
Sáng nay, 27/3, Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp" được tổ chức tại trụ sở Chính phủ. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị.

Cùng dự có Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng; lãnh đạo một số bộ, ngành và đại diện cộng đồng doanh nghiệp. Tổng giám đốc BIDV Lê Ngọc Lâm đã có bài tham luận quan trọng tại diễn đàn.
Vai trò của doanh nghiệp ngày càng được đề cao, càng được tôn vinh
Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đất nước trải qua giai đoạn 2021-2025 trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ; trong đó doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn như đứt gãy các chuỗi cung ứng, thiếu hụt thị trường, các vấn đề thuế quan, đối mặt với thiên tai, bão lũ…
Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đồng hành của Quốc hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực vượt bậc của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, nền kinh tế đã vượt qua khó khăn và đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực; cơ bản là quý sau tốt hơn quý trước, năm sau tốt hơn năm trước, góp phần thay đổi diện mạo đất nước, tăng cường tiềm lực và vị thế đất nước trên trường quốc tế, tạo nền tảng phát triển cho nhiệm kỳ này.

Đặc biệt, trong 2 năm cuối nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã ban hành 9 Nghị quyết chiến lược, sau đó Chính phủ đã trình Quốc hội các nghị quyết để thể chế hóa và triển khai thực hiện sớm, nhằm tạo nền tảng vững chắc tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.
Thủ tướng cho rằng, nông nghiệp và đầu tư nước ngoài đã đưa đất nước thoát khỏi khó khăn; công nghiệp đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao; trong giai đoạn mới, chúng ta xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nền tảng cho sự phát triển, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Vai trò của doanh nghiệp ngày càng được đề cao, càng được tôn vinh; nhận thức thay đổi thì tư duy, phương pháp luận và cách tiếp cận, hành động cũng phải thay đổi, với tinh thần "nguồn lực bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới và sáng tạo, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân và doanh nghiệp".

Hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu
Thủ tướng nêu rõ, bước vào giai đoạn 2026-2030, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu tăng trưởng trung bình 10% trở lên. Đây là mệnh lệnh của non sông, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, thịnh vượng. Tuy nhiên, bối cảnh trong nước và quốc tế còn nhiều thách thức như bảo hộ thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạn kiệt tài nguyên, chuyển đổi năng lượng…. đang là những thách thức lớn.
Do đó, chúng ta phải làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, phát triển dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế tầm thấp… Chúng ta phải vươn xa ra biển lớn, khai thác 7 tầng năng lượng của biển; bay cao lên vũ trụ; tiến sâu vào lòng đất để khai thác không gian ngầm.
Thủ tướng nêu rõ, tất cả điều này đòi hỏi trí tuệ, nỗ lực; với tư duy, phương pháp luận và cách làm phải thay đổi. Trong tiến trình này, Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thể chế, chính sách, song người làm vẫn là doanh nghiệp; dù đường lối, thể chế tốt nhưng nếu doanh nghiệp không nỗ lực thì không thể thành công, không đạt hiệu quả như mong muốn. Doanh nghiệp phải là trung tâm, chủ thể trong sự phát triển. Do đó, doanh nghiệp phải đóng góp vào đổi mới, xây dựng thể chế, nhận thức rõ vai trò trong phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Chia sẻ với doanh nghiệp bằng trái tim
Nêu rõ mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần sự nỗ lực, tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, Thủ tướng khẳng định Chính phủ lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp với sự chân thành, chia sẻ với doanh nghiệp bằng trái tim, hành động bằng sản phẩm cụ thể, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp để góp phần hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm.
Tại hội nghị này, Thủ tướng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận làm thế nào để chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược.
Cùng với đó, hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu; đưa các hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp; doanh nghiệp vừa và nhỏ trở thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp lớn trở thành doanh nghiệp toàn cầu, xuyên quốc gia.
Đồng thời, tận dụng kinh tế số, kinh tế xanh, các FTA để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; đóng góp nhiều hơn, tham gia sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu lao động quốc tế. Thủ tướng cũng đặt vấn đề, Nhà nước cần tháo gỡ điểm nào về thể chế, chính sách, nguồn lực để tạo đột phá cho doanh nghiệp.
Thủ tướng cho rằng, đây đều là những vấn đề lớn đòi hỏi tất cả các chủ thể phải chung tay, đề cao trí tuệ tiết kiệm thời gian, quyết đoán đúng lúc để đạt hiệu quả cao nhất. Để đất nước vượt qua những cơn gió ngược, tăng trưởng hai con số thì tất cả các cấp, các ngành, địa phương đều phải tăng trưởng hai con số. Đồng thời, đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết trong nước để ứng phó những vấn đề thời đại, vấn đề bên ngoài. Chúng ta kiên trì thực hiện đường lối đa dạng hoá, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế; là bạn bè tốt, đối tác tốt, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tranh thủ nguồn lực bên ngoài là nguồn vốn, quản trị, khoa học công nghệ.

Bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 doanh nghiệp thành lập mới
Trình bày báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho biết, yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới đặt ra phải thay đổi căn bản trong tư duy điều hành: từ "ổn định để phát triển" sang "ổn định để bứt phá"; từ "cải thiện môi trường kinh doanh" sang "kiến tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia"; và đặc biệt là từ "hỗ trợ doanh nghiệp" sang "trao quyền và đồng hành để doanh nghiệp trở thành lực lượng kiến tạo tăng trưởng".

Về tình hình doanh nghiệp, theo ông Cao Anh Tuấn, khu vực doanh nghiệp hiện đóng góp khoảng 60% GDP, thu hút hơn 16 triệu lao động, đóng góp chủ yếu vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò đầu tàu trong nhiều ngành, lĩnh vực trọng yếu, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, ổn định kinh tế vĩ mô. Khu vực kinh tế tư nhân, một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đã có bước tiến mạnh mẽ, lan tỏa tinh thần khởi nghiệp, từng bước hình thành các tập đoàn mang thương hiệu tầm cỡ khu vực và quốc tế. Khu vực doanh nghiệp FDI tiếp tục là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế khi Việt Nam đã thuộc nhóm 15 quốc gia thu hút FDI lớn nhất thế giới.
Ba khu vực doanh nghiệp này đang từng bước gắn kết, hợp thành sức mạnh chung, tạo động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững và vươn lên hùng cường.
Tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 25% so với năm 2020.
Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ; từ tháng 5/2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 38% so với bình quân 4 tháng đầu năm. Năm 2025, cả nước có gần 298 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Về huy động nguồn lực từ khu vực doanh nghiệp cho phát triển kinh tế, xã hội, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 33% GDP. Đến hết năm 2025, quy mô thị trường cổ phiếu đạt khoảng 86,7% GDP, thị trường trái phiếu đạt khoảng 30% GDP. Qua ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, cả nước đã khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư khoảng 5,2 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn tư nhân chiếm gần 75%.

Bên cạnh những kết quả rất quan trọng nêu trên, nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức. Thể chế, pháp luật còn một số vướng mắc, bất cập, chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; việc phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực còn chưa cải cách triệt để; các vấn đề pháp lý tồn đọng của một số doanh nghiệp, dự án đầu tư chưa được giải quyết dứt điểm.
Doanh nghiệp là chủ thể kiến tạo tăng trưởng
Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, bước sang giai đoạn 2026-2030, bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cả thời cơ lớn lẫn thách thức rất gay gắt, đặt ra sức ép và cũng là động lực cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ, là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Nếu tiếp tục dựa vào các động lực truyền thống và cách làm cũ, chúng ta sẽ không thể đạt được mục tiêu này. Cần đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng lấy phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; dựa trên nền tảng Nhà nước kiến tạo phát triển, thể chế hiện đại, đồng bộ và việc phát huy cao nhất tri thức, khoa học công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây thực chất là một cuộc cải cách toàn diện, trong đó doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống chính sách và là chủ thể kiến tạo tăng trưởng.
Doanh nghiệp tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao; dẫn dắt cho khu vực tư nhân, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi. Các doanh nghiệp FDI đóng vai trò là nguồn lực bổ sung quan trọng, gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp trong nước. Ba khu vực này phải hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo thành hệ sinh thái doanh nghiệp năng động, hiệu quả, bền vững.
Ông Cao Anh Tuấn cho rằng, trong tổng thể đó, cần chuyển mạnh nhận thức và cách tiếp cận: doanh nghiệp không chỉ là "đối tượng phục vụ" hay thực thi chính sách, mà là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và tham gia định hình chiến lược phát triển quốc gia; trong đó các doanh nghiệp lớn phải trở thành lực lượng dẫn dắt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính kiến nghị: Về phía các Bộ, ngành, địa phương, cần quyết liệt triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương lớn của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hội nhập quốc tế.... Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thủ tục hành chính; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực giữa các khu vực doanh nghiệp; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới; cho phép áp dụng cơ chế "sandbox" cơ chế chuyên biệt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, trọng tâm là công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, công nghệ chiến lược, công nghệ mới....
Về phía doanh nghiệp, cần tiếp tục phát huy tinh thần tiên phong và khát vọng cống hiến vì một quốc gia cường thịnh; chủ động đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh. Chủ động tham gia cùng nhà nước triển khai các dự án lớn, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia, trọng điểm, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên phục vụ mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng hai con số. Chủ động nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ và tự cường về khoa học và công nghệ. Chủ động tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã hoặc cam kết sẽ tham gia.
Về phía các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp, cần tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp hội viên, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, chủ động phối hợp với các cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách, giải pháp hỗ trợ. Đồng thời, các hiệp hội cần phát huy vai trò cầu nối hiệu quả giữa Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về tốc độ, mà là yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là nhiệm vụ kinh tế, mà là sứ mệnh chiến lược để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong tiến trình đó, doanh nghiệp phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tạo dựng vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết.

Đóng góp tăng trưởng 2 con số, Petrovietnam tập trung 3 định hướng chiến lược trọng tâm
Đại diện doanh nghiệp đầu tiên phát biểu tại Hội nghị, ông Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết: Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới đầy biến động, Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, hoàn thành và vượt toàn diện 13/13 chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính phủ giao. Những con số tăng trưởng so với năm 2021 là minh chứng rõ nét nhất.
Về quy mô tổng tài sản, Petrovietnam đến hết năm 2025 đạt 1,18 triệu tỷ đồng, tăng 9,28% so với thời điểm đầu năm và 38,4% so với đầu năm 2021.
Tổng doanh thu toàn Petrovietnam năm 2025 đạt 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 76% so với năm 2021. Đồng thời, nộp ngân sách nhà nước chiếm từ 7-9% tổng thu ngân sách nhà nước và đạt trung bình trên 165.000 tỷ đồng/năm. Lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 66.000 tỷ đồng và tăng 27% so với năm 2021.
Và đặc biệt, nếu so với các tập đoàn năng lượng trong khu vực Đông Nam Á thì năm 2025, Petrovietnam là đơn vị duy nhất tăng trưởng đồng thời cả 3 chỉ tiêu cốt lõi về doanh thu, lợi nhuận và tổng tài sản. Với năm 2025 so với 2024, doanh thu hợp nhất tăng 14%.
Và đặc biệt, chỉ tiêu về tổng tài sản, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thì đều được cải thiện. ROA tăng từ vị trí số 3 lên vị trí số 2 và ROE từ vị trí số 3 lên vị trí số 1 của 4 tập đoàn năng lượng lớn nhất trong khu vực.
Để đạt được những kết quả như vậy, bên cạnh sự quyết tâm, cố gắng của cả hệ thống, Petrovietnam đã nhận được nhiều sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Bước sang năm 2026, nhận nhiệm vụ từ Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng hai con số, chúng tôi xem đây là một thách thức lớn nhưng cũng là mệnh lệnh để quyết tâm bứt phá. Sự quyết liệt ấy đã được hiện thực hóa bằng những kết quả hết sức tích cực trong quý I năm 2026.
Thứ nhất, về khai thác dầu thô, đã tăng trưởng 10,4% so với cùng kỳ. Đây cũng là năm đầu tiên đạt được tăng trưởng sau 11 năm.
Thứ hai, về sản xuất điện, tăng 17,5% so với cùng kỳ và sản xuất xăng dầu thì đạt được hơn 14 triệu tấn, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Đồng thời, doanh thu hợp nhất tăng 17% so với cùng kỳ và đạt 10% so với kế hoạch của Chính phủ giao, tiếp tục là cơ sở để tạo đà tăng trưởng vững chắc cho các quý còn lại trong năm và cho giai đoạn tiếp theo.
Và để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm và cho giai đoạn 5 năm (2026-2030), Petrovietnam tập trung với ba định hướng chiến lược trọng tâm.
Thứ nhất là đột phá về năng lực quản trị. Chúng tôi kiên định giữ vững nền tảng cốt lõi, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Toàn hệ thống đang thực hiện nghiêm về kỷ luật sản xuất, kỷ cương điều hành, siết chặt quản trị rủi ro và chi phí. Và đặc biệt, Tập đoàn đang tăng tốc hoàn thiện hệ thống quản trị hiện đại, minh bạch theo Nghị quyết 79, lấy con người làm trung tâm, phát huy sức mạnh văn hóa và sức mạnh nội sinh của toàn bộ hệ thống.
Thứ hai là đẩy mạnh đầu tư trọng điểm, tạo động lực tăng trưởng mới. Với quan điểm đầu tư phải đi trước một bước, tạo động lực tăng trưởng, Tập đoàn kiên quyết tháo gỡ mọi điểm nghẽn, không để chậm tiến độ làm mất cơ hội phát triển. Cụ thể, Tập đoàn tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí. Đây là hoạt động cốt lõi của Tập đoàn.
Thứ hai là tập trung vào các dự án đầu tư trọng điểm của ngành, ví dụ dự án Lô B - Ô Môn, nâng cấp mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Đồng thời, tăng cường đầu tư để hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng sinh thái và tổ hợp về điện khí LNG. Cùng với đó là sự tích cực chuẩn bị cho Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
Thứ ba là chuyển dịch chiến lược và đổi mới sáng tạo. Tập đoàn tiếp tục mở rộng không gian tăng trưởng xanh, sạch, bền vững, chủ động tham gia sâu vào xu thế chuyển dịch năng lượng và đẩy mạnh nghiên cứu, đầu tư vào điện gió ngoài khơi. Đồng thời, tạo đột phá thực sự bằng việc đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và quản trị thông minh theo đúng tinh thần đột phá chiến lược quốc gia.
Phát huy truyền thống 65 năm lịch sử cùng sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, Petrovietnam cam kết sẽ nỗ lực cao nhất, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tới.

Đề xuất xây dựng một Chương trình quốc gia về mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế
Ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) nêu rõ: Quán triệt thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, ngay từ những ngày đầu năm 2026, Viettel đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Trong quý 1/2026, về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Tập đoàn hoàn thành 107% kế hoạch quý, tăng trưởng 19% so với cùng kỳ năm 2025. Đặc biệt trong đó, lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao gần 30%, đóng góp gần 60% vào tăng trưởng chung của Tập đoàn.
Từ thực tiễn trên, với góc độ một doanh nghiệp, lãnh đạo Viettel đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng không gian kinh tế quốc gia thông qua đầu tư ra nước ngoài, xuất phát từ một số lý do sau:
Một là, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng lên tầm cao mới. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, ngoại giao kinh tế đã trở thành một mũi nhọn chiến lược. Hình ảnh đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Thủ tướng Chính phủ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên chủ trì, tham gia các diễn đàn đa phương và song phương lớn thế giới; nhiều lãnh đạo các nước, lãnh đạo các doanh nghiệp hàng đầu thế giới đến thăm và làm việc với lãnh đạo Đảng và nhà nước ta, cũng đã đến thăm các Tập đoàn lớn của Việt Nam từ đó đã mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam tự tin tiến ra toàn cầu.
Hai là, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó xác định rõ nhiệm vụ "khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ở nước ngoài; xây dựng và bảo vệ các thương hiệu quốc gia đạt tầm quốc tế". Nghị quyết 68 - NQ/TW về kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79- NQ/TW về kinh tế nhà nước đều đặt mục tiêu Việt Nam có doanh nghiệp trong tốp đầu của khu vực và thế giới, muốn vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải vươn tầm ra thế giới.
Ba là, Việt Nam đã hình thành được một số doanh nghiệp có kinh nghiệm đầu tư nước ngoài như FPT bắt đầu chiến lược xuất khẩu phần mềm từ năm 1998, Petrovietnam với gần 24 năm khẳng định năng lực tại các dự án năng lượng toàn cầu, VinGroup với gần 10 năm thực hiện định hướng xuất khẩu ô tô sang Mỹ, châu Âu, hay như Viettel đã có hơn 20 năm kinh nghiệm đầu tư quốc tế trong lĩnh vực viễn thông và giải pháp số.
Ngoài ra, bên cạnh hiệu quả về kinh tế, đầu tư ra nước ngoài còn góp phần thúc đẩy đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại quốc phòng. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong chuyến thăm và làm việc tại Viettel Campuchia ngày 13/7/2024: "Đầu tư ra nước ngoài không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn phục vụ lợi ích quốc gia về chính trị, đối ngoại, quốc phòng, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam"
Từ những lý do trên, ông Tào Đức Thắng làm rõ 6 nội dung mang tính nền tảng của chiến lược đầu tư ra nước ngoài như sau:
Thứ nhất, về tư duy: Cần xác định mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế là một trụ cột quan trọng của tăng trưởng quốc gia. Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là đi ra, mà là tổ chức nền kinh tế theo hướng hai chiều: Vừa mở rộng ra bên ngoài, vừa thu hút nguồn lực toàn cầu vào Việt Nam.
Thứ hai, về không gian: Bên cạnh các thị trường truyền thống hiện nay, cần quan tâm thêm các thị trường đang phát triển tại ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latin – nơi phù hợp với năng lực triển khai của Việt Nam. Đồng thời, cần chủ động tiếp cận các thị trường phát triển để nâng cấp công nghệ và tiêu chuẩn, coi Việt Nam là điểm đến quốc tế để thu hút dòng giá trị toàn cầu.
Thứ ba, về lĩnh vực ưu tiên: Cần tập trung vào các mũi nhọn như: Hạ tầng chiến lược; công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ giá trị cao có khả năng thu hút dòng chi tiêu quốc tế.
Thứ tư, về lợi thế cạnh tranh: Phát huy tối đa những lợi thế cạnh tranh đặc thù của Việt Nam như nguồn nhân lực có khả năng thích ứng cao, chi phí hợp lý và năng lực triển khai thực tiễn mạnh; kinh nghiệm phát triển hạ tầng và dịch vụ trên quy mô lớn, cho phép không chỉ xuất khẩu sản phẩm mà có thể xuất khẩu mô hình; mạng lưới hội nhập sâu rộng cùng uy tín quốc gia ngày càng được nâng cao và đặc biệt là vị thế cân bằng trong quan hệ quốc tế.
Thứ năm, về tổ chức lực lượng, cần hình thành các tập đoàn kinh tế chủ lực đóng vai trò dẫn dắt, tổ chức doanh nghiệp đi ra quốc tế theo mô hình hệ sinh thái. Các tổ chức này cần được xác định là "tổng thầu quốc gia", có khả năng tích hợp, triển khai và dẫn dắt các doanh nghiệp khác tham gia theo chuỗi giá trị. Đây là mô hình mà Nhật Bản, Hàn Quốc đã thực hiện thành công và Trung Quốc đang triển khai ở quy mô lớn.
Thứ sáu, về cơ chế chính sách: Cần có cách tiếp cận ở tầm quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã xây dựng các tổ chức và công cụ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài một cách bài bản, hiệu quả như Nhật Bản có JETRO và JICA, Hàn Quốc có KOTRA và KOICA, Trung Quốc có chiến lược Vành đai – Con đường…
Trên cơ sở những nội dung nền tảng trên, tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể, đó là:
1. Xây dựng một Chương trình quốc gia về mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế.
2. Thí điểm các cơ chế đặc thù, chấp nhận rủi ro cho các Tập đoàn chủ lực khi đầu tư vào các ngành công nghệ mới hoặc thị trường chiến lược.
3. Hình thành cơ chế tài chính và bảo lãnh rủi ro cấp Chính phủ để bảo vệ doanh nghiệp trước các biến động địa chính trị toàn cầu.
4. Nâng cấp vai trò hệ thống cơ quan đại diện ở nước ngoài thành đầu mối phát triển thị trường thực thụ.
5. Thường xuyên rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các thỏa thuận hợp tác cấp Nhà nước đã ký kết, đảm bảo tính thực chất và hiệu quả.
Có thể khẳng định rằng, nếu không hình thành được một cấu trúc tổ chức ở tầm quốc gia, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục đi ra theo cách đơn lẻ và khó có thể xây dựng được năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế không chỉ là một lựa chọn, mà là con đường bắt buộc để Việt Nam vươn lên trong giai đoạn tới. "Tiên phong trong hội nhập quốc tế và đầu tư nước ngoài có hiệu quả" cũng chính là 1 trong 5 "tiên phong" mà Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tại Hội nghị với Doanh nghiệp nhà nước vào tháng 6/2024.

Bảo đảm cung ứng điện cho tăng trưởng hai con số
Ông Đặng Hoàng An, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết: Với vai trò là doanh nghiệp nhà nước, chịu trách nhiệm chính trong đảm bảo cung ứng điện cho nền kinh tế và xã hội, được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên, sâu sắc, liên tục của Trung ương, Chính phủ, đặc biệt là Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, EVN đã từng bước vượt qua khó khăn và khắc phục những yếu kém nội tại để đảm bảo cung ứng điện cho nền kinh tế, ở tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu khu vực.
Hiện nay, chúng ta có một hệ thống điện có quy mô đứng thứ 2 Đông Nam Á và đứng thứ 22 trên thế giới với tổng công suất lắp đặt là 87.600 MW.
Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hệ thống điện Việt Nam hiện nay đang duy trì ở top 4 ASEAN.
Riêng về chỉ số tiếp cận điện năng, báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới đã xếp chất lượng dịch vụ điện của Việt Nam đứng thứ 2 Đông Nam Á sau Singapore. Đây là những kết quả mà chúng tôi cải thiện liên tục về dịch vụ khách hàng.
Trước đây, người dân đăng ký công tơ, thực hiện 12 dịch vụ về điện khá là nhiêu khê, nhưng hiện nay, 12 dịch vụ này đều trực tuyến cấp độ 4. Từ năm 2021, không có tiếp xúc trực tiếp, thanh toán tiền điện 99,95% là không dùng tiền mặt, mà bằng các phương tiện thanh toán rất đa dạng, khoảng 8.000 cán bộ thu tiền điện trước đây cũng không còn duy trì.
Về tự động hóa hệ thống, chúng ta có gần 1.000 trạm biến áp 110 kV và khoảng gần 200 trạm biến áp 220 kV và 35 trạm 500 kV, về cơ bản không phải trực ở trạm mà tự động hóa hoàn toàn. Những việc đấy giúp cải thiện năng suất, tiến tới hiện đại hóa việc điều hành quản lý ngành điện.
Thứ hai, EVN trong 5 năm vừa qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, đã duy trì một tốc độ đầu tư rất lớn để phát triển cơ sở hạ tầng nguồn và lưới điện. Tổng đầu tư 5 năm của EVN là gần 500.000 tỷ đồng, cả nguồn và lưới điện, những công trình lớn
Riêng năm 2024 là 112.892 tỷ đồng và năm 2025 là 125.778 tỷ đồng. Vậy tại sao lại phải đầu tư nhiều thế? Nếu năm nay không đầu tư thì 5 năm sau sẽ thiếu điện, vì một công trình nguồn mất khoảng 5 năm. Chúng tôi chiếm đến 70% tổng đầu tư của 18 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Đây cũng là sức ép rất lớn nhưng chúng tôi nhận thức phải cố gắng.
Nhờ đó, 99,85% số hộ dân đã có điện và tỷ lệ có điện ở nông thôn là 99,77%. Doanh thu năm ngoái của EVN là 645.000 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước là trên 26.000 tỷ đồng.
Trong thời gian tới , EVN xác định nhiệm vụ quan trọng vẫn là đảm bảo cung ứng điện cho nền kinh tế để tăng trưởng hai con số.
Thứ hai chúng tôi vẫn tiếp tục đầu tư cho nguồn và lưới điện theo quy hoạch điện VIII điều chỉnh và những công trình mà EVN được giao.
Trong bối cảnh tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, chúng tôi dự báo nhu cầu điện, nhu cầu năng lượng sẽ tiếp tục tăng trưởng rất cao. Điều này cần có sự chung tay của cả xã hội.
Bên cạnh đó, với các mục tiêu lớn trong Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, chúng tôi đặt ra một số mục tiêu quan trọng. Một là đến năm 2030 và thậm chí sớm hơn để trở thành doanh nghiệp trong danh sách Forbes 500 Thế giới và khả năng cao là sẽ đạt sớm hơn năm 2030.
Thứ hai, chuyển sang áp dụng chuẩn mực quản trị theo OECD.
Thứ ba, với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, chúng ta phải tiến vào mức top 3 ASEAN và một số chỉ tiêu phải vào top 2 ASEAN.
Và thứ tư, phải tiếp tục tăng cường đầu tư cho nguồn và lưới điện.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ của EVN đã xác định 1 năm đầu tư xấp xỉ 5 tỷ USD. Như vậy tổng đầu tư 5 năm tới của EVN cho nguồn và lưới điện cũng sẽ duy trì 25 tỷ USD, trong đó có những công trình rất lớn, ví dụ Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận 1, các dự án điện gió ngoài khơi.
Thứ năm, phải tiếp tục thực hiện chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi xanh, hiện đại hóa các nhà máy điện hiện hữu, bao gồm cả nhà máy nhiệt điện và làm các dự án năng lượng khác, phát triển khoa học công nghệ. Ví dụ, mở rộng danh mục sản phẩm để tự chủ về thiết bị điện cho lưới điện.
Chúng ta là nước đầu tiên trong Đông Nam Á chế tạo được máy biến áp 500 kV. Hiện nay, chỉ có thêm Thái Lan chế tạo được, nhưng đó cũng là nhãn hiệu của nước ngoài còn EVN là tự thiết kế, tự chế tạo và cũng đã bước đầu xuất khẩu sang Australia và thị trường Đông Nam Á. Trong thời gian, chúng tôi cũng thúc đẩy chuyển đổi số.
Lãnh đạo EVN nêu 2 ý kiến. Thứ nhất, đối với đầu tư phát triển nguồn điện, nếu tăng trưởng kinh tế tốc độ hai con số thì tăng trưởng điện chắc chắn cũng phải là hai con số. Và như vậy thì sức ép đầu tư sẽ rất lớn.
Với 13.000 MW cộng với hệ thống lưới điện thì đầu tư 5 tỷ USD một năm đối với một doanh nghiệp như EVN rất là nặng.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh thì vào năm 2030 cần phải có 183.000 MW điện. Hiện nay là chúng ta có 87.600 MW, EVN sẽ đầu tư 13.000 MW, còn 85.000 MW nữa sẽ do các nhà đầu tư khác. Thủ tướng đã chỉ đạo tháo gỡ rất nhiều cơ chế về đầu tư, về cấp phép nhưng vẫn cần có thêm cơ chế chính sách.
Chúng tôi sẵn sàng hợp tác với các nhà đầu tư trong việc này. Những khó khăn vướng mắc nếu có, đối với EVN thì mong các nhà đầu tư liên hệ trực tiếp để chúng tôi xử lý.
Vấn đề nữa là việc sử dụng năng lượng, sử dụng điện cho nền kinh tế nói chung thì đã hiệu quả chưa? Thực chất là chúng ta có Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, nhưng tôi cho rằng không gian để tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm điện vẫn còn rất nhiều.
Mong Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo vấn đề tiết kiệm này. Làm thế nào để tiết kiệm trở thành thói quen của từng người dân và từng doanh nghiệp.
Chúng tôi cũng sẽ quyết tâm trong thời gian tới tăng tốc phát triển, có thể trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, đảm bảo an ninh năng lượng.
Các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng1 triệu tỷ đồng
Ông Lê Ngọc Lâm, Tổng Giám đốc BIDV cho biết: Hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc thúc đẩy kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Đây không chỉ là mục tiêu về quy mô tăng trưởng mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao vị thế quốc gia, tăng cường năng lực cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống của người dân.

Ngay từ đầu năm 2026, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành đồng bộ nhiều Nghị quyết, Chỉ thị và Công điện quan trọng, định hướng rõ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10%, đồng thời yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển thị trường vốn và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
Đây là cơ sở quan trọng để hệ thống các tổ chức tín dụng, trong đó có BIDV, chủ động triển khai các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế. Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và mang tính đột phá, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, chủ lực trong việc thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn và dẫn dắt thị trường.
Với lợi thế về quy mô, năng lực tài chính và mạng lưới rộng khắp, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục giữ vai trò chi phối trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Về tổng tài sản, đến cuối năm 2025, nhóm "Big Four" (4 ngân hàng lớn) đạt khoảng 11 triệu tỷ đồng, chiếm 46,5% giá trị tổng tài sản toàn ngành ngân hàng. Trong đó, BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, đạt 3,27 triệu tỷ đồng (chiếm 13,9% tổng tài sản toàn ngành).
Về dư nợ tín dụng, tổng dư nợ của 4 ngân hàng này đạt khoảng 8 triệu tỷ đồng, chiếm 42,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Riêng thị phần tín dụng của BIDV đạt 12,5%.
Trong năm 2026, với tốc độ tăng trưởng bình quân do Ngân hàng Nhà nước giao khoảng 11 - 12%, các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng 1 triệu tỷ đồng, để phục vụ các nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là các động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng.
BIDV tự hào luôn là ngân hàng đi đầu trong việc triển khai tài trợ cấp tín dụng cho các dự án, công trình lớn như: sân bay, cảng biển, cầu đường, viễn thông, cao tốc, hạ tầng điện lực… nhằm phục vụ phát triển hạ tầng quốc gia.
Song song với vai trò cung ứng vốn, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong việc thực thi chính sách tiền tệ, chủ động điều tiết thanh khoản, ổn định thị trường ngoại hối, góp phần giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, các ngân hàng thương mại nhà nước cũng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, giúp cải thiện khả năng tiếp cận vốn và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, từ đó kích thích đầu tư và tiêu dùng. Đây là những yếu tố cốt lõi để đạt được tăng trưởng kinh tế cao.
Cùng với đó, các ngân hàng thương mại cùng ngành ngân hàng tích cực triển khai chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại trong cung ứng dịch vụ và quản trị điều hành, từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và thúc đẩy phát triển toàn diện.
Để hệ thống ngân hàng phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, thay mặt các ngân hàng thương mại nhà nước, BIDV nêu một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng bền vững, linh hoạt và chủ động. Trong đó, cho phép giữ lại toàn bộ lợi nhuận để chi trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm nâng cao năng lực vốn.
Thứ hai, đề xuất Chính phủ cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường (có thể thấp hơn giá gốc của khoản nợ) nhưng vẫn thực hiện đảm bảo đúng quy trình, thủ tục công khai, minh bạch để giải phóng nguồn lực hiện nay đang bị ách tắc do nợ xấu.
Thứ ba, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phân bổ hạn mức tín dụng phù hợp để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.
Thứ tư, thúc đẩy triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi số. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng để khuyến khích mở rộng tín dụng.
Thứ năm, phát triển đồng bộ thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường vốn và trái phiếu doanh nghiệp nhằm giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Thứ sáu, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia. Tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các Bộ, ngành với hệ thống ngân hàng nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng thẩm định rủi ro, tín dụng và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ bảy, xây dựng nền tảng pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, các động lực tăng trưởng mới như: kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế ban đêm, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là thách thức lớn nhưng hoàn toàn khả thi với sự quyết tâm của Chính phủ, sự hưởng ứng và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp cũng như hệ thống tài chính ngân hàng.
BIDV cam kết sẽ tiếp tục phát huy vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, tiên phong thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước.

Cần kiểm soát chặt chẽ 3 yếu tố chính để giảm lãi suất cho vay
Ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) cho biết: trung bình mỗi năm, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) dành từ 50 đến 100 triệu USD đầu tư cho khoa học công nghệ; riêng năm vừa qua, mức đầu tư khoảng 62 triệu USD. Kết quả, trong 5 năm qua, quy mô tổng tài sản bình quân của MB đã tăng gấp 3 lần. Doanh thu duy trì tốc độ tăng trưởng đều đặn ở mức 25% mỗi năm. Đặc biệt, số lượng khách hàng đã tăng gấp 5 lần, đưa MB trở thành ngân hàng dẫn đầu thị trường về quy mô khách hàng nhờ chiến lược chuyển đổi số quyết liệt. Đây là những bước đi cụ thể mà chúng tôi đã tận dụng để đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua.
Bước sang giai đoạn tiếp theo, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Đây là một yêu cầu rất cao, thể hiện khát vọng lớn lao của Đảng và Nhà nước.
Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm này, tôi xin được đóng góp một số ý kiến tâm huyết. Về mặt ngắn hạn, việc đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số là một thách thức, nhưng để duy trì sự tăng trưởng đó trong dài hạn lại là một bài toán khó hơn rất nhiều.
Do đó, việc ổn định kinh tế vĩ mô bền vững là yêu cầu bắt buộc, trong đó cốt lõi là ổn định lãi suất. Nếu không duy trì được mặt bằng chi phí tài chính thấp, doanh nghiệp sẽ không có động lực để mở rộng đầu tư. Trong hệ sinh thái này, ngành ngân hàng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của khối doanh nghiệp tư nhân.
Để hiện thực hóa mục tiêu giảm lãi suất cho vay và giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp, chúng ta cần kiểm soát chặt chẽ 3 yếu tố chính.
Thứ nhất là chi phí quản lý của các ngân hàng. Hiện nay, tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng doanh thu (CIR) của những ngân hàng quản trị tốt chỉ ở mức khoảng 25%, trong khi có những đơn vị lên tới 50%. Đây chính là dư địa để chúng ta tối ưu hóa hoạt động.
Thứ hai là chi phí vốn đầu vào, cụ thể là lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm. Yếu tố này phụ thuộc trực tiếp vào tính thanh khoản và khả năng luân chuyển vốn thông thoáng trong nền kinh tế. Khi dòng vốn được lưu thông thuận lợi, chi phí đầu vào của ngân hàng sẽ giảm xuống.
Thứ ba là kiểm soát chi phí rủi ro nợ xấu. Chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu hiện chiếm khoảng 18% đến 20% trong cơ cấu chi phí của ngành ngân hàng. Tại các quốc gia quản trị tốt vấn đề này, họ tập trung vào hai khía cạnh: nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng và tăng cường ý thức tuân thủ kỷ luật tài chính của người đi vay. Nếu đảm bảo được sự cân bằng quyền lợi và trách nhiệm giữa bên vay và bên cho vay trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chi phí rủi ro sẽ giảm, từ đó có điều kiện kéo lãi suất cho vay xuống mức thấp hơn.
Về mô hình tăng trưởng dài hạn cho quốc gia, chúng ta cần xác định rõ những ngành kinh tế mũi nhọn mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh thực sự trên trường quốc tế. Năng lực cạnh tranh quốc gia phải bắt đầu từ việc lựa chọn đúng ngành để phát triển.
Trước hết, chúng ta phải khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có như một lợi thế khởi đầu. Tiếp theo là chú trọng vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng cần xác định cụ thể đâu là công nghệ lõi và ngành công nghiệp lõi mà Việt Nam cần ưu tiên.
Từ đó, Chính phủ cần ban hành các cơ chế đặc thù để khuyến khích các doanh nghiệp dũng cảm đầu tư dài hạn, hình thành nên năng lực cốt lõi riêng biệt cho từng doanh nghiệp, qua đó nâng tầm sức mạnh kinh tế quốc gia.

VIMC nỗ lực giảm chi phí logistic; chuyển 100% các cảng thành "smart port"
Ông Lê Anh Sơn, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC): Trong năm 2025, VIMC đã duy trì nhịp độ hoạt động rất tích cực. Sản lượng vận tải biển đạt 21,5 triệu tấn, tăng 11% so với năm trước. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt 162 triệu tấn, cũng tăng 12% so với cùng kỳ. Nhờ đó mà doanh thu đạt được xấp xỉ tăng 8% so với năm 2024.
Bước sang năm 2026, xung đột tại Trung Đông đã làm giá nhiên liệu tăng cao. Nhiên liệu cho tàu biển đã tăng lên tới 2,4 lần, khiến cho rất nhiều hợp đồng vận tải phải xem xét lại yếu tố hiệu quả. Tuy nhiên, Tổng công ty với vai trò doanh nghiệp Nhà nước, vẫn tiếp tục duy trì trong giai đoạn này, có những điều chỉnh về mặt chiến lược để làm sao cắt giảm chi phí logistics như Thủ tướng. Đặc biệt là đảm bảo tốc độ tăng trưởng trên hai con số: 10,5% về vận tải biển và 11% về sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển, để đảm bảo doanh thu tăng tối thiểu 10% trong năm 2026.
Để đạt được những sự bứt phá như vậy, VIMC xác định phải chuyển đổi mạnh tư duy chuyển để tạo bứt phá. Tổng công ty đã chuyển đổi mạnh mẽ các cảng biển trở thành "smart port" (cảng thông minh), và phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ này 100% các cảng sẽ trở thành "smart port".
Khi các cảng đã tự động hóa, sẽ cắt giảm rất nhiều thủ tục hành chính. Và như vậy sẽ góp phần làm giảm chi phí xếp dỡ, lưu giữ hàng hóa tại các cảng. Ở Hải Phòng và TPHCM, các cảng biển của Tổng công ty đã đưa ra mức giá gần như là thấp nhất thị trường.
Để có thể cắt giảm chi phí vận tải, Tổng công ty đã đẩy mạnh việc tích hợp AI, tự động hóa vào hệ thống quản trị dữ liệu vận hành cảng biển và vận tải biển, đảm bảo giảm thiểu chi phí cho nền kinh tế.
Liên quan đến vấn đề này, trong một hội nghị vừa qua với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng công ty đề xuất một giải pháp. Đó là hiện nay vận tải trong nước dựa nhiều vào đường bộ. Vì vậy chi phí logistics liên quan cho nền kinh tế sẽ tăng, vì chi phí vận tải đường bộ sẽ ngày càng tăng cao. Như vậy, Tổng công ty có 2 đề xuất cơ bản:
Đó là dành nguồn ngân sách lớn hơn, quan trọng hơn vào việc phát triển các hệ thống đường thủy nội địa.
Đối với khu vực phía Nam thì hệ thống kênh rạch rất chằng chịt và được coi là một cái "mỏ vàng" thiên nhiên cho Việt Nam. Hệ thống kênh rạch phía Nam đứng thứ hai trên thế giới. Nhưng việc đầu tư để cải tạo nâng cấp, đảm bảo sự an toàn vận hành trong hệ thống kênh rạch phía Nam chưa tương xứng so với những nguồn lực đầu tư cho hệ thống hạ tầng khác. Vì vậy rất mong Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tăng tỷ lệ đầu tư cho hệ thống này.
Thứ hai, hiện nay vận tải đường sắt còn yếu. Chúng ta hiện nay dựa chủ yếu vào trục Bắc - Nam. Trong đó trục ngang, đặc biệt như cụm công nghiệp ở khu vực Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và ra cửa biển khu vực Vũng Tàu không có hệ thống đường sắt phục vụ vận chuyển hàng hóa. Hiện nay Tổng công ty cũng đang mạnh dạn phối hợp với một số đối tác nước ngoài xây dựng giải pháp về vận tải trục ngang kết nối các trung tâm công nghiệp với cảng biển, để giảm thiểu chi phí vận tải.
Bài học tăng trưởng nhờ ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ
Bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH Group cho biết: Từ những trải nghiệm khi vượt qua các biến cố chưa từng có tiền lệ như dịch bệnh; sau dịch bệnh là đứt gãy chuỗi logistics, rồi đến xung đột vũ trang trên thế giới, có thể thấy với sự năng động, quyết liệt và tầm nhìn thấu đáo, bao quát của Đảng, Nhà nước, cùng với sự điều hành trực tiếp của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Chúng ta đã có những bước đi rất mạnh mẽ, kịp thời và cầu thị, góp phần quan trọng giúp đất nước vượt qua khó khăn.
Nhờ đó, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo toàn tâm, toàn ý của các bộ, ban, ngành, đứng đầu là Chính phủ, Tập đoàn TH liên tục duy trì tăng trưởng hai con số. Riêng năm vừa qua, Tập đoàn đạt mức tăng trưởng 17%, và kế hoạch năm 2026 là 20,9%.
Không chỉ hoạt động trong nước, Tập đoàn TH đã mở rộng đầu tư ra quốc tế. Chúng tôi đã đầu tư tại Nga và được ghi nhận; tiếp đó là đầu tư tại Australia với quy mô lớn. Hiện nay, Tập đoàn đang phát triển vùng nguyên liệu nho để sản xuất rượu phục vụ xuất khẩu.
Tháng 4/2024, theo đề nghị của Tổng thống Indonesia về việc phát huy nội lực đất đai và cải thiện dinh dưỡng cho trẻ em, Bộ trưởng Nông nghiệp Indonesia đã sang thăm Tập đoàn TH và mời chúng tôi đầu tư phát triển ngành sữa tại Indonesia. Tập đoàn đã nhận lời và tiến hành khảo sát.
Để thành công trong lĩnh vực nông nghiệp là điều không dễ, bởi phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, nếu áp dụng khoa học, công nghệ, khoa học quản trị, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, thì hoàn toàn có thể đạt hiệu quả cao.
Điều này đã được chứng minh tại Tập đoàn TH: năm 2008, tỷ lệ sữa tươi trong nước chỉ khoảng 8%, đến nay đã xấp xỉ 60%. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn được đánh giá thuộc nhóm dẫn đầu thế giới.
Trước những thành tựu của khoa học, công nghệ và mô hình phát triển bền vững trên thế giới, tôi cho rằng Việt Nam cần xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp theo từng ngành và từng giai đoạn để hình thành các "cánh chim đầu đàn" dẫn dắt.
Trong quá trình đầu tư ra nước ngoài, chúng tôi cũng nhận thấy điều tương tự. Khi đầu tư vào Nga, thị trường thiếu hụt sữa và rau, nhưng chỉ sau khoảng 2 năm, doanh thu nông nghiệp đã vượt nhiều lĩnh vực khác. Điều này giúp họ duy trì ổn định trước các biến động.
Từ thực tiễn đó, tôi cho rằng mỗi ngành cần có chính sách phù hợp theo từng giai đoạn phát triển; khi thị trường đạt trạng thái bão hòa thì cần điều chỉnh chiến lược.
Tại Việt Nam, tôi đặc biệt trăn trở về vấn đề an toàn thực phẩm và dinh dưỡng cho trẻ em. Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều bước đi tích cực; nền tảng cho Luật Dinh dưỡng học đường đang dần được hình thành.
Tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau" mà Tổng Bí thư đã nhấn mạnh, cùng mục tiêu bảo đảm mỗi trẻ em đều có ly sữa, bữa ăn học đường là định hướng rất nhân văn và cần sớm được thể chế hóa.
Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Tập đoàn TH đã phối hợp triển khai thí điểm tại 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng địa lý, tạo cơ sở thực tiễn để trình Quốc hội xem xét ban hành luật. Đồng thời, một số nội dung về dinh dưỡng đã được đưa vào Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là ngành bò sữa, vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Quyết định 309 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển ngành bò sữa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã tạo nền tảng quan trọng để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch phát triển, đồng thời gắn kết người nông dân vào chuỗi giá trị.
Tôi mong rằng, trên nền tảng đó, các bộ, ngành sẽ tiếp tục thúc đẩy việc xây dựng Luật Dinh dưỡng học đường, nhằm bảo đảm trẻ em Việt Nam đến năm 2045 phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng một đất nước hạnh phúc, phồn vinh.
Tập đoàn TH cam kết tiếp tục phát triển trên nền tảng bền vững, ứng dụng khoa học, công nghệ và quản trị hiện đại, xây dựng nền tảng căn cơ cho phát triển lâu dài. Dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào, chúng tôi luôn hướng tới mục tiêu đóng góp thiết thực cho cộng đồng, vì một hạnh phúc bền vững.
Đón bắt sự chuyển dịch dòng vốn
Ông Đặng Minh Trường – Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Sun Group cho biết: Để đóng góp cho hội nghị với nội dung thúc đẩy tăng trưởng hai con số, với tư cách là nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ vui chơi, giải trí, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:
Dựa trên tình hình Trung Đông khi có bất ổn, các dòng vốn đầu tư vào bất động sản có dấu hiệu chuyển dịch sang các thị trường khác, trong đó có Đông Nam Á – khu vực rất tiềm năng, đặc biệt là Việt Nam với vị trí địa chính trị, kinh tế - xã hội ổn định, từ đó, chúng tôi mong muốn: đối với các đặc khu kinh tế, các không gian phát triển chiến lược như Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc, cũng như các khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, cần khẩn trương xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội, mang tính đột phá, đủ sức cạnh tranh với các trung tâm kinh tế, du lịch trong khu vực.
Cụ thể, từ thực tiễn triển khai, chúng tôi đề xuất:
Thứ nhất, cho phép chỉ định nhà đầu tư chiến lược để triển khai các dự án trọng điểm theo cơ chế đặc thù, bảo đảm tính đồng bộ.
Thứ hai, cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở và công trình thương mại với thời hạn 50–70 năm tại một số khu vực nhất định, qua đó thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế và thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ cao cấp.
Thứ ba, áp dụng cơ chế thị thực dài hạn (10–20 năm) đối với nhà đầu tư, chuyên gia nước ngoài; đồng thời mở rộng chính sách miễn thị thực cho các thị trường trọng điểm như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hongkong (Trung Quốc), Nga, Australia, Ấn Độ.
Cần giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương
Ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Trên cơ sở đà tăng trưởng tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định và các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận 3 kết quả lớn đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua:
Thứ nhất, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, đến nay, đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, số doanh nghiệp tăng thêm hơn 25% so với năm 2020. Tinh thần kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ.
Thứ hai, sự tăng trưởng nền kinh tế cao, ổn định, trung bình tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,23%, riêng năm 2025 là trên 8%, đem lại cơ hội cho cộng đồng doanh nghiệp trong phát triển, đầu tư và kinh doanh. Thủ tướng Chính phủ cũng đã trực tiếp chỉ đạo triển khai nhanh và nhiều các dự án lớn, tạo ra thị trường và cơ hội lớn cho doanh nghiệp.
Thứ 3, GDP Việt Nam đã đứng thứ 32 thế giới và thứ 4 trong ASEAN. Xuất khẩu tăng trưởng bình quân gần 10%, riêng năm 2025 đạt kỷ lục gần 500 tỷ USD. Hoạt động đối ngoại tích cực, Thủ tướng đã trực tiếp tới các thị trường quốc tế, góp phần nâng cao uy tín Việt Nam, tạo vị thế cho doanh nghiệp khi tương tác với đối tác quốc tế và doanh nghiệp FDI.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, đại diện VCCI đề xuất các nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, nên giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương. Các chỉ số này thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp vào tăng trưởng như giải quyết việc làm và thu nhập của người dân. Khi có chỉ tiêu, lãnh đạo địa phương sẽ quan tâm hơn đến việc tháo gỡ khó khăn và hấp dẫn doanh nghiệp.
Thứ hai, khơi thông nguồn lực, đặc biệt là khu vực tư nhân. Cần có cơ chế bảo đảm tiếp cận vốn, đất đai minh bạch, thuận lợi dựa trên công khai quy hoạch, rút ngắn thời gian phê duyệt các thủ tục đầu tư, đất đai. Đẩy mạnh các dự án PPP (hợp tác công tư) trong các lĩnh vực tiên phong để Việt Nam tham gia thị trường quốc tế như: trung tâm dữ liệu số, sản xuất bán dẫn, thiết bị không gian tầm thấp.
Thứ ba, nên lượng hóa việc hình thành các tập đoàn kinh tế lớn. Theo Nghị quyết 68, cần hình thành khoảng 20 tập đoàn kinh tế lớn. Việc định hình các doanh nghiệp này nên để quyền chủ động cho các doanh nghiệp tự đề xuất hơn là các cơ quan nhà nước đặt ra. Khuyến khích các doanh nghiệp liên kết hình thành các tập đoàn lớn. Các doanh nghiệp này sẽ tự đề xuất các đề án. VCCI sẵn sàng hỗ trợ giới thiệu và kết nối việc này.
Thứ tư, phát triển hạ tầng và giảm chi phí kinh doanh như hệ thống logistic, hệ thống hạ tầng năng lượng, hạ tầng viễn thông… Đề làm được những việc này cần có những doanh nghiệp lớn, đủ tầm để thực hiện các hạ tầng xương sống của đất nước.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn và năng suất. VCCI đề xuất việc đào tạo này phải theo khung tiêu chuẩn quốc tế. VCCI có lợi thế với kinh nghiệm 20-30 năm sẵn sàng phối hợp triển khai nội dung này theo kế hoạch của nhà nước.
Thứ sáu, tăng cường liên kết doanh nghiệp. Đây là yếu tố rất quan trọng vì vậy VCCI đề xuất cần quan tâm hơn việc tạo cơ chế để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết với nhau để chung mua, chung bán, chung đầu tư, chung thị trường nhằm cạnh tranh với doanh nghiệp FDI.
Đồng thời đề xuất xóa bỏ sự phân biệt/ngăn cách giữa hiệp hội doanh nghiệp trong nước và hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài (FDI). Cần tạo sự tin tưởng để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI.
VCCI sẵn sàng đồng hành cùng Chính phủ để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp đạt được các mục tiêu lớn lao đã đề ra.
Cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính
Bà Ninh Thị Ty – Anh hùng Lao động, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Hồ Gươm: Cộng đồng doanh nghiệp chúng tôi đồng thuận và ủng hộ mạnh mẽ định hướng của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới. Đây là mục tiêu đột phá thể hiện khát vọng phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đặc biệt việc xác định tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là hướng đi đúng đắn. Doanh nghiệp nhận thức rõ đây không chỉ là cơ hội mà còn là yêu cầu bắt buộc để nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Dệt may là một ngành năm 2025 xuất khẩu được 46,2 tỷ USD và ngành đã xuất siêu được 21 tỷ USD. Theo tính toán của Tập đoàn Dệt may Việt Nam thì 1 hecta đất ngành dệt may đã trả cho địa phương từ 70 đến 100 tỷ đồng trong 1 năm qua lương, thuế và bảo hiểm xã hội. Có lẽ đây là một ngành đóng góp trên tỷ trọng đất là cao và đồng thời giải quyết được nhiều lao động cho địa phương.
Ngoài ra, ngành dệt may thời gian tới chúng tôi cũng cần phải nỗ lực cố gắng làm sao mà tăng tỷ trọng FOB và tiến tới là ODM. Và để đạt được mục tiêu này, chúng tôi rất cần sự đồng hành ủng hộ của Nhà nước, đặc biệt là các trung tâm xúc tiến thương mại. Chúng tôi cũng rất cảm ơn các chính sách của Nhà nước vừa qua đã tạo điều kiện cho ngành dệt may phát triển tốt.
Năm 2016, chúng tôi bắt đầu đầu tư thêm lĩnh vực nông nghiệp và sản phẩm đầu tiên của chúng tôi là lá tía tô xanh xuất Nhật. Chúng tôi bán tại vườn là từ 500 đến 700 đồng/1 lá. Tuy nhiên, qua 10 năm dù đã kết hợp với một số nhà khoa học nhưng đến giờ vẫn chưa chủ động được giống và chúng tôi vẫn phải nhập khẩu giống từ Nhật.
Tiếp đến là vải không hạt. Chúng tôi trồng từ năm 2018 và đã bán sản phẩm thương mại từ năm 2023. Bán tại vườn từ 300 đến 400 ngàn đồng/1 kg nhưng không đủ để cung cấp cho thị trường. Năm 2026 này, cách đây mấy ngày, rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã hỏi và đặt hàng chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng không dám khẳng định số lượng là bao nhiêu vì còn phụ thuộc vào thời tiết.
Với những lý do trên, hiện nay công ty chúng tôi cũng đang kết hợp với các nhà khoa học để nghiên cứu tự làm phân hữu cơ để phù hợp với từng loại đất, thổ nhưỡng và phù hợp với từng loại cây trồng, để làm sao có thể đưa năng suất và chất lượng như mong muốn.
Chúng tôi đề xuất Nhà nước có chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học cũng như các doanh nghiệp nghiên cứu tạo ra các giống mới có giá trị, năng suất cao.
Và câu của các cụ ngày xưa là "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống", nhưng mà qua quá trình làm nông nghiệp thì chúng tôi có thể nói là bây giờ phải ưu tiên là "nhất giống, nhì phân, tam nước, tứ cần". Thế cái cần ở đây thì chúng ta đã có điện, có khoa học công nghệ. Và các chủ trương chính sách cho nông nghiệp thì tôi nghĩ vẫn cần phải được ưu tiên hơn nữa.
Các chính sách của Chính phủ ngày càng sát thực tiễn. Tuy nhiên trong tổ chức thực hiện thì cần đảm bảo các cấp cơ sở hiểu đúng và xử lý nhanh, minh bạch cho doanh nghiệp. Chúng tôi kiến nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, có ưu đãi thuế cho đầu tư công nghệ và nhân lực, tăng hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp trong nông nghiệp.
Tiếp tục cập nhật…